Top 3 # Ý Nghĩa Của Việc Phân Biệt Công Chức Và Viên Chức Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 1/2023 # Top Trend | Sansangdethanhcong.com

Phân Biệt Công Chức Và Viên Chức?

Công chức và viên chức là hai đối tượng dễ gây nhầm lẫn, đông đảo mọi người vẫn chưa hiểu rõ và nắm chắc để có thể phân biệt được hai đối tượng này.

Khái niệm công chức, viên chức?

– Khái niệm công chức được quy định tại Khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật cán bộ, công chức và Luật viên chức 2019:

” Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”

– Khái niệm viên chức quy định tại Điều 2 Luật viên chức 2010 như sau: ” Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”.

Điểm giống nhau giữa công chức và viên chức?

Công chức và viên chức giống nhau ở một số đặc điểm như sau:

– Điều kiện để trở thành công chức và viên chức đều là người có quốc tịch Việt Nam.

– Có độ tuổi từ 18 tuổi trở lên, đáp ứng các điều kiện để trở thành công chức, viên chức.

– Thực hiện một số nhiệm vụ cụ thể, thường xuyên trong phạm vi được quy định.

– Được đảm bảo được hưởng về tiền lương, tiền công, và chế độ lao đông theo quy định của pháp luật.

– Được tham gia bảo hiểm xã hội và được hưởng các chế độ về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật.

Phân biệt công chức, viên chức?

Phân biệt công chức và viên chức chủ yếu dựa trên các tiêu chí như sau:

Về cơ chế trở thành công chức, viên chức

– Công chức phải là người Việt Nam, trở thành công chức theo hình thức tuyển dụng, bổ nhiệm và giữ chức danh theo nhiệm kỳ.

– Viên chức phải là công dân Việt Nam, trở thành viên chức thông qua hình thức tuyển dụng vào vị trí việc làm.

– Với công chức thời gian tập sự được quy định riêng đối với từng ngạch, cấp bậc theo quy định của Chính phủ.

– Viên chức sẽ có thời gian tập sự quy định trong hợp đồng làm việc từ khoảng 03 tháng đến 12 tháng.

– Công chức được phân thành các ngạch khác nhau.

– Viên chức được phân theo các chức danh nghề nghiệp.

– Công chức làm việc trong các cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội ở các cấp trung ương, tỉnh, huyện, quận, thị xã.

Làm việc trong các cơ quan, đơn vị của quân đội Nhân dân, Công an nhân dân và không phải trường hợp là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng, là sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.

– Viên chức làm việc tại các đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc.

– Với công chức thì được ngân sách nhà nước chi trả.

– Với viên chức thì được nhận lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập.

– Đối với công chức có thể bị kỷ luật theo những hình thức: khiển trách, cảnh cáo, hạ bậc lương, giáng chức, cách chức, buộc thôi việc.

– Với viên chức có thể bị kỷ luật theo các hình thức: khiển trách, cảnh cáo, cách chức, buộc thôi việc, ngoài ra còn có thể bị hạn chế hoạt động nghề nghiệp của mình.

– Công chức thực hiện các công việc nhân danh quyền lực nhà nước, thực hiện các nhiệm vụ quản lý và phải chịu trách nhiệm về công việc của mình trước Đảng và Nhà nước, trước nhân dân và đơn vị quản lý.

– Viên chức thực hiện các công việc do đơn vị quản lý giao cho mang tính chuyên môn nghiệp vụ, không có tính quyền lực nhà nước. Phải chịu mọi trách nhiệm trước đơn vị quản lý viên chức.

– Công chức điển hình như: Kiểm sát viên, điều tra viên, Phó viện trưởng Viện kiểm sát, Thẩm phán, Chánh án, Phó chánh án, thư ký tòa các cấp, Chủ tịch UBND Huyện, …

– Viên chức điển hình như: Giảng viên trưởng Đại học Hà Nội, bác sĩ bệnh viện E,…

Nếu cần được hỗ trợ về vấn đề phân biệt công chức và viên chức hãy liên hệ chúng tôi Luật Hoàng Phi 19006557 để được hỗ trợ chi tiết nhất.

Tác giả

Phạm Kim Oanh

Bà Oanh hiện đang làm việc tại Bộ phận Sở hữu trí tuệ của Công ty Hoàng Phi phụ trách các vấn đề Đăng ký xác lập quyền cho khách hàng trong lĩnh vực sáng chế, giải pháp hữu ích và kiểu dáng công nghiệp. Đây là một trong những dịch vụ khó, đòi hỏi khả năng chuyên môn cao của người tư vấn.

CHÚNG TÔI LUÔN SẴN SÀNG LẮNG NGHE – TƯ VẤN – GIẢI ĐÁP CÁC THẮC MẮC

1900 6557 – “Một cuộc gọi, mọi vấn đề”

Phân Biệt Cán Bộ, Công Chức Và Viên Chức

70036

So sánh cán bộ, công chức và viên chức

Điểm giống nhau giữa cán bộ, công chức và viên chức

Cán bộ, công chức và viên chức đều là công dân Việt Nam;

Trong biên chế;

Hưởng lương từ Ngân sách nhà nước (riêng trường hợp công chức làm việc trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì tiền lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật);

Giữ một công vụ, nhiệm vụ thường xuyên;

Làm việc trong công sở;

Nghĩa vụ đối với Đảng, Nhà nước và nhân dân; nghĩa vụ trong thi hành công vụ và một số nghĩa vụ đặc biệt do pháp luật quy định;

Có quyền được đảm bảo các điều kiện thi hành công vụ; quyền về tiền lương và các chế độ về tiền lương; quyền về nghỉ ngơi và một số quyền khác.

Phân biệt cán bộ, công chức, viên chức

Khái niệmCán bộCông chứcViên chức Tiêu chí cơ bản Căn cứ

Luật Cán bộ, Công chức 2008

– Luật Cán bộ, công chức 2008

– Nghị định 06/2010/NĐ-CP

Luật Viên chức 2010

Tính chất

– Vận hành quyền lực nhà nước, làm nhiệm vụ quản lý; nhân danh quyền lực chính trị, quyền lực công.

– Theo nhiệm kỳ.

– Vận hành quyền lực nhà nước, làm nhiệm vụ quản lý.

– Thực hiện công vụ thường xuyên

– Thực hiện chức năng xã hội, trực tiếp thực hiện kỹ năng, nghiệp vụ chuyên sâu.

– Thực hiện các hoạt động thuần túy mang tính nghiệp vụ, chuyên môn.

Nguồn gốc, trách nhiệm pháp lý

– Được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm, trong biên chế.

– Trách nhiệm chính trị trước Đảng, Nhà nước, nhân dân và trước cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.

– Thi tuyển, bổ nhiệm, có quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trong biên chế.

– Trách nhiệm chính trị, trách nhiệm hành chính của công chức

– Xét tuyển, ký hợp đồng làm việc.

– Trách nhiệm trước cơ quan, người đứng đầu tổ chức, cơ quan xét tuyển, ký hợp đồng.

Chế độ lương

Hưởng lương từ ngân sách nhà nước, theo vị trí, chức danh.

Hưởng lương từ ngân sách nhà nước, theo ngạch bậc.

Lương hưởng một phần từ ngân sách, còn lại là nguồn thu sự nghiệp.

Nơi làm việc

Cơ quan của Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị- xã hội.

Cơ quan Đảng, nhà nước, tổ chức CT-XH, Quân đội, Công an, Toà án, Viện kiểm sát.

Đơn vị sự nghiệp nhà nước, các tổ chức xã hội.

Tiêu chí

đánh giá

– Năng lực lãnh đạo, điều hành, tổ chức, quản lý;

– Tinh thần trách nhiệm;

– Hiệu quả thực hiện nhiệm vụ

-Năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ;

– Tiến độ và kết quả thực hiện nhiệm vụ;

– Tinh thần trách nhiệm và phối hợp trong thực thi nhiệm vụ;

– Thái độ phục vụ nhân dân.

-Năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ;

– Hiệu quả công việc (số lượng, chất lượng).

– Thái độ phục vụ nhân dân.

Hình thức kỷ luật

– Khiển trách;

– Cảnh cáo;

– Cách chức;

– Bãi nhiệm.

– Khiển trách;

– Cảnh cáo;

– Hạ bậc lương;

– Giáng chức;

– Cách chức;

– Buộc thôi việc.

– Khiển trách;

– Cảnh cáo;

– Cách chức;

– Buộc thôi việc.

Ví dụ về Cán bộ

– Thủ tướng

– Chánh án TAND tối cao

– Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao

– Chủ tịch Hội đồng nhân dân …

Ví dụ về Công chức

– Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND cấp huyện

– Chánh án, Phó Chánh án TAND cấp tỉnh, huyện

– Viện trưởng, Phó Viện trưởng VKSND cấp tỉnh, huyện

– Thẩm phán

– Thư ký tòa án

– Kiểm sát viên.

Ví dụ về Viên chức

– Bác sĩ

– Giáo viên

– Giảng viên đại học

Các Quyền, Nghĩa Vụ Của Cán Bộ, Công Chức, Viên Chức

12299

Về cơ bản, những quy định của Luật Cán bộ, công chức tại Chương II ” Nghĩa vụ, quyền của cán bộ, công chức” tương ứng với các quy định của PLuật Cán bộ, công chức. Vì vậy, ở đây chỉ nói đến các quy định tại Chương II của Luật Cán bộ, công chức.

1. Nghĩa vụ của cán bộ, công chức được quy định tại Mục 1 (các điều 8, 9, 10). Điều 8 “Nghĩa vụ của cán bộ, công chức đối với Đảng, Nhà nước và nhân dân” và Điều 10 “Nghĩa vụ của cán bộ, công chức là người đứng đầu” là các quy định có tính chất chính trị chung, đương nhiên. Riêng trong Điều 9 “Nghĩa vụ của cán bộ, công chức trong thi hành công vụ “, bên cạnh những nghĩa vụ đương nhiên, chỉ có khoản 5 là đáng chú ý:

“Chấp hành quyết định của cấp trên. Khi có căn cứ cho rằng quyết định đó là trái pháp luật thì phải kịp thời với người ra quyết định; trường hợp người ra quyết định vẫn quyết định việc thi hành thì phải có văn bản và người thi hành phải chấp hành nhưng không chịu trách nhiệm về hậu quả của việc thi hành, đồng thời báo cáo cấp trên trực tiếp của người ra quyết định. Người ra quyết định phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình.”

Điều 15 ” Đạo đức của cán bộ, công chức”: “Cán bộ, công chức phải thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư trong hoạt động công vụ”. Đây là ghi lại lời Chủ tịch Hồ Chí Minh, là luật thì cần giả mã cụ thể mới áp dụng được.

Điều 16 “Văn hóa giao tiếp ở công sở” và Điều 17 “Văn hóa giao tiếp với nhân dân” quy định về hai vấn đề nổi cộm trong dư luận xã hội.

2. Quyền của cán bộ, công chức được quy định tại Mục 2 (các điều 11-14) Luật Cán bộ, công chức, bao gồm:

Quyền được bảo đảm các điều kiện thi hành công vụ (Điều 11), trong đó có các quyền sau là đáng chú ý: (1) “Được giao quyền tương xứng với nhiệm vụ” – quy định như vậy là tốt vì đã thừa nhận “quyền” là phương tiện thực hiện “nhiệm vụ”, không như quy định phổ biến trong Hiến pháp và các văn bản về tổ chức là không phân biệt giữa “nhiệm vụ” với ” quyền hạn “; (2) “Được đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ”; (3) “Được pháp luật bảo vệ khi thi hành công vụ”.

Những nghĩa vụ, quyền riêng của các loại cán bộ, công chức, viên chức cụ thể

– NHỮNG VIỆC CÁN BỘ, CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC KHÔNG ĐƯỢC LÀM

Đó là những quyền, nghĩa vụ của mỗi loại cán bộ, công chức, viên chức cụ thể, tùy thuộc vào vị trí của họ trong hệ thống chức danh, cũng như tính chất hoạt động mà họ thực hiện. Ví dụ: quyền hạn, nghĩa vụ của các chức danh cao cấp như Thủ tướng Chính phủ, bộ trưởng được quy định trong Hiến pháp, LTCCP và các văn bản pháp luật khác; quyền và nghĩa vụ của giáo viên đực quy định trong Luật Giáo dục, Luật Giáo viên dự kiến sẽ ban hành và các văn bản khác;… Quyền và nghĩa vụ của kiểm toán viên Kiểm toán nhà nước, của kế toán trưởng, v.v.. cũng có rất nhiều nét đặc thù.

Luật Cán bộ, công chức có Mục 4 chỉ gồm 3 điều (18-20) quy định về vấn đề này, khác với PLuật Cán bộ, công chức dành hẳn cả Chương III gồm 7 điều (14-20):

Những bảo đảm cho hoạt động của cán bộ, công chức, viên chức

Về những bảo đảm chung cho hoạt động của cán bộ, công chức, viên chức, Luật Cán bộ, công chức có nội dung tốt, mới là Chương VII “Các điều kiện bảo đảm thi hành công vụ” gồm 4 điều (70-73) về “Công sở”, “Nhà ở công vụ”, “Trang thiết bị làm việc trong công sở” và “Phương tiện đi lại để thi hành công vụ”.

Những bảo đảm pháp lý cho hoạt động này trước hết là các quyền của cán bộ, công chức, viên chức nói chung, quyền được hưởng các chế độ đãi ngộ, chính sách về tiền lương, phúc lợi, bảo hiểm xã hội, khen thưởng, ghi công …, trong đó đáng chú ý có quyền “được pháp luật bảo vệ khi thi hành công vụ” (khoản 5 Điều 11 Luật Cán bộ, công chức). Những bảo đảm pháp lý này trước hết được quy định trong pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức.

Cần Phân Biệt Rõ “Cán Bộ”, “Công Chức”, “Viên Chức”

Hiện nay, việc sử dụng các khái niệm ” cán bộ“, ” công chức“, ” viên chức” trong các văn bản quy phạm pháp luật còn lúng túng và thiếu thống nhất, thể hiện trên một số điểm sau: Thứ nhất , khái niệm ” cán bộ “, ” công chức ” đã được sử dụng trong Pháp lệnh cán bộ, công chức năm 1998. Tuy nhiên, ngay tên gọi của Pháp lệnh này đã không thống nhất với Hiến pháp năm 1992, vì Điều 8 của Hiến pháp năm 1992 sử dụng khái niệm ” cán bộ, viên chức” chứ không sử dụng khái niệm ” công chức “. Khi không sử dụng khái niệm ” viên chức “, có thể hiểu Pháp lệnh cán bộ, công chức chỉ điều chỉnh một phạm vi rất hẹp, bao gồm những nhóm đối tượng được gọi là ” cán bộ ” và ” công chức ” làm việc trong các cơ quan nhà nước và được định nghĩa rõ. Điều 1 của Pháp lệnh này, có 5 nhóm đối tượng được gọi một cách rất chung chung, không phân biệt nhóm nào là ” cán bộ ” và nhóm nào là ” công chức “. Đến Nghị định số 95/1998/NĐ ư CP về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức thì nhóm đối tượng ” công chức ” đã được làm rõ. Đó là những người thuộc Khoản 3 và 5, Điều 1 của Pháp lệnh cán bộ, công chức. Tuy nhiên, tại Nghị định số 117/2003/NĐ ư CP về tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà nước, lực lượng vũ trang, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội thì khái niệm ” công chức ” lại được sử dụng để gọi chung cho cả cán bộ và công chức.

Thứ hai , khái niệm ” cán bộ, công chức ” được sử dụng trong Pháp lệnh năm 1998 chỉ bao gồm những người trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách. Tuy nhiên, Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh cán bộ, công chức năm 2003 mở rộng khái niệm này, bao gồm trong biên chế nhưng không nhất thiết phải hưởng lương từ ngân sách nhà nước, mà có thể hưởng lương và thu nhập khác từ các hoạt động sự nghiệp. Sự xuất hiện ngày càng nhiều các khái niệm ” cán bộ “, ” công chức ” như đã nêu trên cho thấy khái niệm ” công chức ” đã thay thế cho khái niệm ” viên chức ” trong Hiến pháp năm1992. Tuy nhiên, từ năm 1999 đến nay, có nhiều văn bản không đi theo công thức ” cán bộ, công chức ” như các văn bản trên mà lại sử dụng khái niệm ” cán bộ, viên chức “. Như vậy, khái niệm ” công chức ” đã lại được thay thế bằng khái niệm ” viên chức “. Đáng chú ý là những chủ thể đã ban hành các văn bản quy phạm pháp luật có sử dụng khái niệm ” cán bộ, công chức ” nay chính họ lại ban hành văn có sử dụng khái niệm ” cán bộ, viên chức“. Đơn cử như: Quyết định số 198/1999/QĐưTTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 30/9/1999 về tiền lương của cán bộ, viên chức làm việc tại Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng; Quyết định số 17/2000/QĐưTTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 3/2/2000 về chế độ tiền lương và phụ cấp đối với cán bộ, viên chức Quỹ hỗ trợ phát triển… Các văn bản này cũng không phân biệt rõ ai là ” cán bộ“, ai là ” viên chức” mà chỉ dẫn chiếu Pháp lệnh cán bộ, công chức. Thứ ba , khái niệm ” viên chức ” cũng bắt đầu xuất hiện trở lại tại Điểm d, Khoản 1, Điều 1 của Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh cán bộ, công chức năm 2003, giới hạn phạm vi áp dụng trong các đơn vị sự nghiệp của nhà nước, các tổ chức chính trị và các tổ chức chính trị ư xã hội. Từ đây, khái niệm ” viên chức ” được sử dụng trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật. Tuy nhiên, Nghị định số 116/2003/NĐưCP ngày 10/10/2003 về việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức trong các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước lại định nghĩa ” viên chức là cán bộ, công chức hưởng lương từ ngân sách nhà nước và các nguồn thu sự nghiệp theo quy định của pháp luật“. Như vậy, có sự không thống nhất giữa tên gọi của Nghị định với nội dung của nó, và khái niệm ” viên chức ” đã được sử dụng bao hàm ” cán bộ, công chức“. Thứ tư, khái niệm ” cán bộ ” rất ít được làm rõ, mặc dù nó đã xuất hiện dường như ” xuyên suốt” trong hầu hết các văn bản quy phạm pháp luật như đã phân tích ở trên. Theo quy định tại Nghị định số 95/1998/NĐưCP về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức thì những người thuộc diện quy định tại Khoản 1, 2 và 4 của Điều 1 của Pháp lệnh cán bộ, công chức có thể được ” ngầm hiểu ” là ” cán bộ ” vì những người thuộc Khoản 3 và 5 của Điều 1 của Pháp lệnh này đã được coi là công chức.