Top 10 # Ý Nghĩa Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 2/2023 # Top Trend | Sansangdethanhcong.com

Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Và Phương Pháp Luận Nghiên Cứu Khoa Học

Khái niệm

Trước hết để hiểu được thế nào là phương pháp nghiên cứu khoa học, các khái niệm, các đặc điểm của phương pháp nghiên cứu khoa học, chúng ta cần phải hiểu được khái niệm khoa học là gì?

Khoa học là một khái niệm có nội hàm phức tạp, tùy theo mục đích nghiên cứu và cách tiếp cận ta có thể phân tích ở nhiều khía cạnh khác nhau. ở mức độ chung nhất, khoa học được hiểu như sau: Khoa học là hệ thống tri thức được rút ra từ hoạt động thực tiễn và được chứng minh, khẳng định bằng các phương pháp nghiên cứu khoa học.

Phương pháp không chỉ là vấn đề lý luận mà còn là vấn đề có ý nghĩa thực tiễn to lớn, bởi vì chính phương pháp góp phần quyết định thành công của mọi quá trình nghiên cứu khoa học. Phương pháp là công cụ, giải pháp, cách thức, thủ pháp, con đường, bí quyết, quy trình công nghệ để chúng ta thực hiện công việc nghiên cứu khoa học. Bản chất của nghiên cứu khoa học là từ những hiện tượng chúng ta cảm nhận được để tìm ra các quy luật của các hiện tượng đó. Nhưng bản chất bao giờ cũng nằm sâu trong nhiều tầng hiện tượng, vì vậy để nhận ra được bản chất nằm sâu trong nhiều tầng hiện tượng và nhận ra được quy luật vận động của chúng đòi hỏi chúng ta phải có phương pháp nghiên cứu khoa học. Như vậy phương pháp chính là sản phẩm của sự nhận thức đúng quy luật của đối tượng nghiên cứu. Đến lượt mình, phương pháp là công cụ có hiệu quả để tiếp tục nhận thức sâu hơn và cải tạo tốt hơn đối tượng đó. Trong thực tế cuộc sống của chúng ta người thành công là người biết sử dụng phương pháp.

Như vậy, bản chất của phương pháp nghiên cứu khoa học chính là việc con người sử dụng một cách có ý thức các quy luật vận động của đối tượng nhưmột phương tiện để khám phá chính đối tượng đó. Phương pháp nghiên cứu chính là con đường dẫn nhà khoa học đạt tới mục đích sáng tạo.

Đặc điểm của phương pháp nghiên cứu khoa học

Phương pháp bao giờ cũng là cách làm việc của chủ thể nhằm vào các đối tượng cụ thể, ở đây có hai điều chú ý là: chủ thể và đối tượng.

Phương pháp là cách làm việc của chủ thể, cho nên nó gắn chặt với chủ thể và như vậy phương pháp có mặt chủ quan. Mặt chủ quan của phương pháp chính là năng lực nhận thức, kinh nghiệm hoạt động sáng tạo của chủ thể, thể hiện trong việc ý thức được các quy luật vận động của đối tượng và sử dụng chúng để khám phá chính đối tượng.

Phương pháp là cách làm việc của chủ thể và bao giờ cũng xuất phát từ đặc điểm của đối tượng, phương pháp gắn chặt với đối tượng, và như vậy phương pháp có mặt khách quan. Mặt khách quan quy định việc chọn cách này hay cách kia trong hoạt động của chủ thể. Đặc điểm của đối tượng chỉ dẫn cách chọn phương pháp làm việc, Trong nghiên cứu khoa học cái chủ quan phải tuân thủ cái khách quan. Các quy luật khách quan tự chúng chưa phải là phương pháp, nhưng nhờ có chúng mà ta phát hiện ra phương pháp. Ý thức về sự sáng tạo của con người phải tiếp cận được các quy luật khách quan của thế giới.

Phương pháp có tính mục đích vì hoạt động của con người đều có mục đích, mục đích nghiên cứu các đề tài nghiên cứu khoa học chỉ đạo việc tìm tòi và lựa chọn phương pháp nghiên cứu và ngược lại nếu lựa chọn phương pháp chính xác, phù hợp sẽ làm cho mục đích nghiên cứu đạt tới nhanh hơn, và đôi khi vượt qua cả yêu cầu mà mục đích đã dự kiến ban đầu.

Phương pháp nghiên cứu gắn chặt với nội dung của các vấn đề cần nghiên cứu. Phương pháp là hình thức vận động của nội dung. Nội dung công việc quy định phương pháp làm việc. Trong mỗi đề tài khoa học đều có phương pháp cụ thể, trong mỗi ngành khoa học có một hệ thống phương pháp đặc trưng.

Phương pháp nghiên cứu khoa học có một cấu trúc đặc biệt đó là một hệ thống các thao tác được sắp xếp theo một chương trình tối ưu. Sự thành công nhanh chóng hay không của một hoạt động nghiên cứu chính là phát hiện được hay không lôgíc tối ưu của các thao tác hoạt động và sử dụng nó một cách có ý thức.

Phương pháp nghiên cứu khoa học luôn cần có các công cụ hỗ trợ, cần có các phương tiện kỹ thuật hiện đại với độ chính xác cao. Phương tiện và phương pháp là hai phạm trù khác nhau nhưng chúng lại gắn bó chặt chẽ với nhau căn cứ vào đối tượng nghiên cứu mà ta chọn phương pháp nghiên cứu, theo yêu cầu của phương pháp nghiên cứu mà chọn các phương tiện phù hợp, nhiều khi còn cần phải tạo ra các công cụ đặc biệt để nghiên cứu một đối tượng nào đó. Chính các phương tiện kỹ thuật hiện đại đảm bảo cho quá trình nghiên cứu đạt tới độ chính xác cao.

Các quan điểm phương pháp luận nghiên cứu khoa học có tính lý luận cho nên thường mang màu sắc triết học, tuy nhiên nó không đồng nhất với triết học( như thế giới quan) để tiếp cận và nhận thức thế giới.

Phương pháp luận được chia thành phương pháp bộ môn – lý luận về phương pháp được sử dụng trong một bộ môn khoa học và phương pháp luậnchung cho các khoa học. Phương pháp luận chung nhất, phổ biến cho hoạt động nghiên cứu khoa học là triết học. Triết học Mác-Lênin là phương pháp luận đáp ứng những đòi hỏi của nhận thức khoa học hiện đại cũng như hoạt động cải tạo và xây dựng thế giới mới.

Những phương pháp nghiên cứu khoa học riêng gắn liền với từng bộ môn khoa học( toán học, vật lý học, sinh vật học, kinh tế học v.v…). Do vậy những phương pháp riêng này sẽ được làm sáng tỏ khi nghiên cứu những môn học tương ứng.

Dựa trên những đặc điểm cơ bản của phương pháp và phương pháp luận nghiên cứu khoa học, chúng ta đi vào việc phân loại các phương pháp.

Các Nhóm Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Nghiên Cứu Khoa Học

Published on

Các nhóm phương pháp nghiên cứu khoa học

1. NHÓM 5 I. PHƯƠNG PHÁP THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM. II. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU SẢN PHẨM HOẠT ĐỘNG. III. PHƯƠNG PHÁP HỎI Ý KIẾN CHUYÊN GIA.

3. -Trong thực tiễn, người ta thường dùng các loại thực nghiệm: 2. CÁC LOẠI THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM *Thực nghiệm thăm dò (phát hiện bản chất sự vật để xây dựng giả thuyết) *Thực nghiệm tác động *Thực nghiệm kiểm tra (kiểm chứng các giả thuyết khoa học) *Thực nghiệm ứng dụng *Thực nghiệm triển khai

4. Thực nghiệm thăm dò Xác định bản chất: không gian học tập, điều kiện học tập quyết định đến chất lượng dạy và học Dựa vào điều kiện thực tế để đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục

5. Kiểm tra lại tính xác thực của các giả thiết khoa học Thự c nghiệm kiểm tra Xác định, đánh giá tính hiệu quả của việc sự dụng phương pháp dạy học bằng sơ đồ tư duy

6. Thực nghiệm tác động Phương pháp dạy

7. Thực nghiệm ứng dụng-triển khai Thực hiện thí điểm Ứng dụng rộng rãi

8. -Từ mâu thuẫn giáo dục đề ra các giả thuyết khoa học và các biện pháp khắc phục. -Trên cơ sở giả thuyết, phân tích các biến số độc lập và chọn các nhóm thực nghiệm và đối chứng tương đương nhau về phương diện và tiến hành thực nghiệm trong điều kiện giống nhau. -Tiến hành thực nghiệm đối với nhóm thực nghiệm và quan sát tỉ mỉ diễn biến kết quả của hai nhóm một cách khách quan. -Xử lí tài liệu thực nghiệm. -Kết quả xử lý tài liệu cho chúng ta những cơ sở khẳng định giả thuyết, rút ra những bài học cần thiết và đề xuất những ứng dụng vào thực tế. 3. Tổ chức thực nghiệm sư phạm

9. -Để đảm bảo tính phổ biến của kết quả thực nghiệm điều cần chú ý là phải chọn đối tượng tiêu biểu để nghiên cứu, cần tiến hành ở nhiều địa bàn, trên các đối tượng khác nhau và cần thiết hơn nữa là tiến hành thực nghiệm lặp lại nhiều lần trên cùng một đối tượng ở các thời điểm. Kết quả thực nghiệm sư phạm là kết quả khách quan nhất trong các kết quả nghiên cứu khoa học bằng các phương pháp khác .

10. a. Ưu điểm. -Thực nghiệm sư phạm là chiếc kính hiển vi giúp ta đi sâu vào bản chất của hiện tượng giáo dục, tìm ra mối quan hệ nhân quả của nhiều sự kiện giáo dục. 4. ƯU VÀ NHƯỢC ĐIỂM CỦA THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM

11. -Thực nghiệm sư phạm tìm ra những cái mới trong hoạt động giáo dục.

13. -Thực nghiệm sư phạm tuy là kính hiển vi, nhưng không phải lúc nào cũng đeo kính vào mắt để đi đường mà ngắm cảnh được. Mặt khác, do nhiều điều kiện khó khăn, nên thông thường số lượng đơn vị trong tập mẫu không thỏa mãn nhu cầu tối thiểu. Trong những hoàn cảnh như vậy, phải thận trọng phát biểu kết luận sư phạm thực nghiệm sư phạm cho phổ biến và đại trà. VD: Trong quá trình thực nghiệm chọn một số nơi thực nghiệm thích hợp với thực nghiệm nhưng những nơi khác thì không chắc sẽ làm được như vậy.

14. – Một là, xây dựng giả thuyết thực nghiệm trên cơ sở phân tích kĩ các biến số độc lập. – Hai là, chọn hai nhóm thực nghiệm và đối chứng có số lượng, trình độ và mọi điều kiện tương đương nhau về mọi phương diện, nhằm khống chế những nhân tố không tham gia thực nghiệm và tách ra được những nhân tố tham gia thực nghiệm. -Ba là, tác động đến nhóm thực nghiệm đúng phương pháp, đo đầu vào và đầu ra sao cho khách quan. -Bốn là, xử lí kết quả thực nghiệm chính xác, chân thực cả về mặt định lượng lẫn mặt định tính, đối chiếu kết quả thực nghiệm với giả thuyết khoa học và rút ra kết luận. 5. YÊU CẦU

15. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU SẢN PHẨM HOẠT ĐỘNG 1. KHÁI NIỆM: -Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động là phương pháp mà nhà nghiên cứu sẽ thông qua các sản phẩm mà đối tượng được nghiên cứu (học sinh, giáo viên, cán bộ giáo dục, ..v.vv.) tạo ra như bài làm, bài chấm vở ghi, bài soạn, sổ sách, nhật ký, các sáng tạo văn học nghệ thuật, sản phẩm lao động, học tập, v.v.. để tìm hiểu tính chất, đặc điểm của con người và hoạt động tao ra các sản phẩm đó.

16. *Về nguyên tắc, thông qua những sản phẩm của con người tạo ra mà chúng ta có thể nhận ra tư tưởng tình cảm, ý chí cũng như năng lực của họ. Tuy nhiên cũng cần chú ý rằng một sản phẩm hoạt động cũng có thể có hai cách sử dụng khó khăn. -Nếu sử dụng các sản phẩm hoạt động đó làm tài liệu để phân tích những đặc điểm tâm lý của những người được nghiên cứu, của hoạt động tạo ra những sản phẩm đó thì việc sử dụng phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động là đúng đắn. Nhưng nếu dùng những nhận xét vủa người khác làm cứ liệu về nhân cách của đối tượng được nghiên cứu qua sản phẩm qua hoạt động của mình, lúc này tính khách quan đã mất đi rất nhiều. Trong trường hợp này, đó là ý thức chủ quan của người ghi nhật kí chứ không còn là sự kiện khách quan nữa. Đó không phải là phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động mà chính là phương pháp trò chuyện gián tiếp (được viết ra).

17. a. Ưu điểm : -Giúp người nghiên cứu có thể khách quan hóa (trực quan hóa) nhưng đặc điểm tâm lí, sinh lí thông qua sản phẩm hoạt động của họ. -Sản phẩm hoạt động còn là một phương tiện thổ lộ tâm lí và tình cảm của người tạo ra nó. 2. ƯU ĐIỂM VÀ NHƯỢC ĐIỂM:

18. b. Nhược điểm: -Người nghiên cứu chỉ biết kết quả cuối cùng, chứ không biết quá trình tạo ra sản phẩm đó như thế nào. -Đôi khi qua sản phẩm chúng ta không xác định một cách chính xác chiều hướng phát triển của người tạo ra sản phẩm như thế nào.

19. + Đầu tiên tìm cách xây dựng lại đầy đủ quá trình hoạt động để tạo nên sản phẩm mà ta nghiên cứu. Ví dụ, đối với, bài làm, bài soạn, bài giảng, sáng tác… có thể sử dụng những bản nháp, dự thảo được sắp đặt theo thời gian. Bằng cách đó nhiều khi sẽ giúp phát hiện những điểm quan trọng và tinh tế mà chỉ tìm hiểu sản phẩm cuối cùng thì không thể nhận thấy được. + Dựng lại hoàn cảnh thực tế mà sản phẩm tạo ra, đặc biệt khi tình trạng hoạt động mới bắt đầu. Làm được điều đó giúp ta hiểu về con người và hoạt động tạo ra sản phẩm một cách đầy đủ, sâu sắc hơn nhiều, khác về chất. +Nên tìm hiểu đầy đủ về các mặt khác nhau của con người tạo ra sản phẩm. Làm được điều này sẽ giúp ta hiểu sâu hơn về sản phẩm và quá trình tạo ra nó. 3. YÊU CẦU

20. *Để thực hiện các yêu cầu này cần sử dụng tài liệu thu được bằng những phương pháp khác nhau như trò chuyện, quan sát, điều tra, tự thuật, tiểu sử, tất nhiên cũng cần nắm vững lí luận tâm lí học về tâm lí học của con người.

21. Ví dụ: Khi tiến hành nghiên cứu khả năng đọc hiểu của học sinh trong môn tiếng Anh bằng cách cho học sinh làm một bài test hay tập hợp những bài tập trước để đánh giá mức độ của học sinh, nhưng nhận thấy kết quả không khả quan. Giáo viên nên điều chỉnh hay đưa ra phương án dạy học hiệu quả như khi đọc một đoạn văn, học sinh không nên dịch từng từ một, vì như vậy sẽ rất mất thì giờ, dẫn đến kết quả kém.

22. 2. PP LẤY Ý KIẾN CHUYÊN GIA 1. KHÁI NIỆM: – Là phương pháp thu thập thông tin khoa học , nhận định, đánh giá một sản phẩm khoa họ, bằng cách sử dụng trí tuệ một đội ngũ chuyên gia có trình độ cao về một lĩnh vực nhất định.Ý kiến của từng người sẽ bổ sung lẫn nhau, kiểm tra lẫn nhau, cho ta một ý kiến tối ưu, khách quan về một vấn đề khoa học .

23. 2. MỤC ĐÍCH: Là phương pháp khai thác và vận dụng “chất xám” của các chuyên gia, nhằm mục đích : + Thu thập thông tin khoa học +Thu lượm những ý kiến đánh giá về tình hình giáo dục,về những sản phẩm giáo dục,về những sản phẩm khoa học ….. +Thu lượm những ý kiến về giải pháp giáo dục cho vấn đề muốn khai thác,không những vậy, mà còn có tính trung thực khoa học…

25. CẢM ƠN CÔ VÀ CÁC BẠN ĐÃ LẮNG NGHE!!!

Phương Pháp Nghiên Cứu Của Tội Phạm Học? Ý Nghĩa?

19392

1. Phương pháp nghiên cứu của tội phạm học

Tội phạm học khác với các khoa học pháp lý khác ở chỗ trong tội phạm học sử dụng phổ biến và có hiệu quả phương pháp thống kê và một số phương phương nghiên cứu cụ thể của xã hội học như phương pháp phiếu điều tra, phương pháp phỏng vấn, phương pháp chuyên gia, phương pháp quan sát, phương pháp thực nghiệm,…

a) Phương pháp thống kê

– Bước thứ nhất: Thu thập các tài liệu cần thiết về tội phạm xảy ra theo thời gian và lãnh thổ nhất định.

Trong tội phạm học, phương pháp thống kê thường được sử dụng vào việc đánh giá thực trạng, mức độ, cơ cấu, diễn biến tội phạm, phân tích làm rõ nguyên nhân và điều kiện phát sinh tội phạm, các đặc điểm xã hội nhân khẩu của nhân thân người phạm tội; xác định quy luật vận động phát triển của tội phạm để dự báo tội phạm, soạn thảo những biện pháp phòng chống tội phạm trong những năm tiếp theo. Phương pháp thống kê áp dụng trong nghiên cứu tội phạm học theo trình tự gồm ba bước chính là:

Quá trình này do các cơ quan các ngành trên cơ sở chức năng nhiệm vụ của mình trong quá trình tham gia vào các giai đoạn của trình tự tố tụng mà pháp luật tố tụng hình sự qui định tiến hành thống kê theo nội dung và tiêu chí nhất định. Đơn vị thống kê được xác định là vụ và người phạm tội. Các trường hợp phạm tội và những người phạm tội sẽ được ghi chép theo những dấu hiệu nhất định trong các tài liệu thống kê đầu tiên như các phiếu đăng ký, các biểu mẫu, v.v… Ví dụ: Cơ quan công an đăng ký vào sổ từng vụ án đã phát hiện và từng người tham gia vào vụ án theo biểu mẫu sau:

Bước thứ hai: Phân loại tài liệu thống kê.

Còn ở tòa án có các biễu mẫu thống kê từng vụ án và từng bị cáo. Hiện nay ở tòa án có bốn loại biểu mẫu thống kê là: Thống kê xét xử hình sự sơ thẩm; thống kê xét xử hình sự phúc thẩm; thống kê xét xử hình sự giám, phúc thẩm và tái thẩm; thống kê thi hành án hình sự.

Các tài liệu thống kê đã thu thập được phân thành từng lọại, từng nhóm có chung những đặc điểm và tính chất giống nhau. Trong thống kê, có hai cách phân loại các dấu hiệu theo tiêu chí về số lượng hoặc chất lượng. Cách phân loại các dấu hiệu dựa vào số lượng thường được áp dụng trong khi nghiên cứu những đặc điểm, dấu hiệu nhân thân người phạm tội. Ví dụ: Nghiên cứu độ tuổi của bị cáo, thời gian hình phạt tù đã áp dụng, số lần tái phạm v.v…

Cách phân loại các dấu hiệu dựa vào chất lượng thường được áp dụng phân loại tội phạm thành những nhóm theo các dấu hiệu như sau:

– Thời gian phạm tội

– Địa điểm phạm tội

– Thủ đoạn và phương pháp thực hiện tôi phạm

– Công cụ, phương tiện phạm tội;

– Đối tượng tác động của tội phạm;

– Khách thể của tội phạm;

– Tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội củạ tội phạm;

– Lãnh thổ (tỉnh, thành phố, huyện, quận,…);

– Ngành kinh tế;

– Lí do phạm tội (ghen tuông, trả thù, vụ lợi…);

– Khuynh hướng của tội phạm (các tội phạm có tính chiếm đoạt, các tội có dùng vũ lực…)

Ngoài ra, cách phân loại dựa vào chất lượng còn được áp dụng phân loại người phạm tội theo dấu hiệu sau:

– Dấu hiệu xã hội – nhân khẩu – như giới tính, tuổi, trình độ văn hoá, quốc tịch, dân tộc, tôn giáo, nghề nghiệp, hoàn cảnh gia đình, hoàn cảnh kinh tế…

– Dấu hiệu pháp luật hình sự như tội danh, tái phạm, loại và mức hình phạt đã áp dụng…

– Dấu hiệu tâm sinh lí như động cơ, mục đích, nhu cầu, sở thích thói quen…

Bước thứ ba: Phân tích, so sánh và tổng hợp: các tài liệu, số liệu thống kê thu nhận được.

Phương pháp phân loại như vậy cho phép nhận thức chính xác về cơ cấu và diễn biến của tình hình tối phạm trong thời gian nghiên cứu. Ngoài ra, còn có một số cách phân loại khác nữa được sử dụng trong khi tiến hành xác định mối liên hệ khác nhau như trình độ văn hóa, điều kiện văn hóa, điều kiện kinh tế, tệ nạn xã hội (nghiện rượu, nghiện ma túy, mại dâm, cờ bạc,…) thì phải phân loại theo cách phân chia phân tích.

Đây là bước cuối cùng và quan trọng nhất của trình tự thống kê. Trước hết cần tiến hành sửa chữa, chỉnh lý các tài liệu, số liệu đã được tập hợp hệ thống thành nhóm, loại theo những tiêu chí nhất định để tạo điều kiện thuận lợi cho việc so sánh giữa chúng với nhau. Việc chỉnh lý tài liêu được thực hiện trong quá trình lập con số tuyệt đối. Các con số tuyệt đối phải bảo đảm các yêu cầu: tính chính xác, tính đầy đủ và tính có thể so sánh được. Quá trình phân tích, so sánh các tài liệu, số liệu thông kê và tổng hợp để đưa ra kết luận về thực trạng, mức độ, cơ cấu, diễn biến của tình hình tội phạm, về thiệt hại do tội phạm đã gây ra cho xã hội, về nguyên nhân và điều kiện phạm tội. Trong tội phạm học thường sử dụng một số phương pháp thống kê cụ thể như số tuyệt đối, số tương đối, số trung bình, đồ thị, biểu đồ và một số phương pháp khác…

– Phương pháp số tuyệt đối (số lớn) thường được áp dụng khi đánh giá về mặt lượng của hiện tượng. Sẽ tuyệt đối thể hiện quy mô, khối lượng của hiện tượng tội phạm trong xã hội thể hiện số lượng tội phạm và người phạm tội đã được làm rõ trong từng thời gian và trong từng địa bàn lãnh thổ nhất định.

Ví dụ: Trong 5 năm từ năm 1997 đến năm 2001, ở Việt Nam, tổng số tội phạm và người phạm tội đã xét xử sơ thẩm là 248 871 vụ với 382 769 bị cáo.

– Phương pháp số tương đối thường được áp dụng khi nghiên cứu mức độ phổ biến của tội phạm trong dân cư cũng như về cơ cấu, diễn biến của tình hình tội phạm và các nguyên nhân của nó. Có ba loại số tương đối:

+ Số tương đối phản ánh quan hệ cường độ còn được gọi là hệ số về tội phạm. Nó thể hiện tính phổ biến của tội phạm trong từng thời gian và trong từng khu vực dân cư. Hệ số về tội phạm được tính bằng cách so sánh số lượng tội phạm hoặc số lượng người phạm tội với số lượng dân. Ví dụ, năm 1997, hệ số về tội phạm ở Việt Nam là 84,15; Singapore là 969,87; Colombia là 576,76; Italia là 4271,65… (tính theo số tội phạm trên 100.000 dân nói chung).

+ Số tương đối phản ánh quan hệ phân chia (cơ cấu của sự tổng hợp). Nó là tỷ lệ giữa từng phần riêng biệt đối với tổng số của chúng. Dạng số tương đối này được áp dụng trong nghiên, cứu làm sáng tỏ về cơ cấu, tính chất của tình hình tội phạm và các nguyên nhân của họ ví dụ: Trong tổng số tội phạm đã xét xử hình sự sơ thẩm năm 1998 thì có 14,59% các tội xâm phạm tính mạng sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của con người 49,12% các tội xâm phạm sở hữu (XHCN và công dân); 26,28% các tội xâm phạm an toàn trật tự công cộng; còn lại là các tội phạm khác.

+ Số tương đối phản ánh sự thay đổi của hiện tượng theo thời gian Loại số tương đối nay được áp dụng trong nghiên cứu làm sáng tỏ diễn biến (động thái) của tình hình tội phạm. Nó là kết quả so sánh mức độ của hiện tượng ở hai thời kỳ khác nhau. Ví dụ nếu tổng số tội phạm đã xét xử hình sự sơ thẩm năm 1986 là 100% làm gốc để so sánh với các năm sau: năm 1990 – 105%, măm 1991 – 118%, năm 1992 – 116%, năm 1993 – 160%, năm 1994 – 153%, năm 1995 – 161%, năm 1996 – 229%, năm 1997 – 240%, năm 1998 – 242%, 1999 – 245%, năm 2000 – 241% năm 2001 – 239%. Từ các con số tương đối trên, chúng ta có thể rút ra kết luận về diễn biến của tình hình tội phạm trong thời gian qua là có xu hướng tăng liên tục và tăng nhanh từ năm 1990 cho đến năm 1999, sau đó, tội phạm có chiều hướng giảm bắt đầu từ năm 2000 cho đến nay với mức độ giảm chậm.

– Phương pháp số trung bình (bình quân) thể hiện mức trung bình về mặt số lượng của hiện tượng. Phương pháp này được áp dụng khi xác định đặc điểm của nhân thân người phạm tội và của tình hình tội phạm. Ví dụ: Độ tuổi trung bình của những người phạm tội nói chung hoặc của: từng nhóm tội phạm cụ thể; hoặc số tội phạm trung bình xảy ra hàng năm trong thời kì đổi mới.

– Phương pháp đồ thị, biểu đồ: Thể hiện tình hình tội phạm trên bảng bằng các đường (tròn, thẳng, cột…) theo thời gian nhằm xác định mô hình tội phạm, đánh giá, theo dõi sự thay đổi, diễn biến tội phạm, khám phá quy luật vận động của nó để từ đó có thể dự báo tội phạm trong những năm tiếp theo.

b) Các phương pháp xã hội học được trong các nghiên cứu tội phạm học chọn lọc

Mặc dù phương pháp thống kê là phương pháp quan trọng nhất đối với công việc nghiên cứu tội phạm. Tuy nhiên, phương pháp thống kê nói chung và phương pháp thống kê hình sự nói riêng cũng có mặt hạn chế của nọ. Điều này thể hiện ở chỗ lượng thông tin về tội phạm trong một khoảng thời gian do thống kê hình sự cung cấp không phản ánh chính xác về tội phạm trong giai đoạn hiện tại vì các tội phạm đó đã xảy ra trong thời gian trước. Mặt khác, số lượng tội phạm được ghi trong sổ, biểu mẫu thống kê, còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố ảnh hưởng lớn nhất vẫn là chất lượng, hiệu quả của công tác phát hiện, điều tra, truy tố, xét xử tội phạm của các cơ quan tư pháp hình sự. Do việc sử dụng các số liệu thống kê không đáp ứng được yêu cầu nghiên cứu tội phạm một cách sâu rộng, toàn diện nên trong tội phạm học ngoài các phương pháp thống kê còn sử dụng các phương pháp xã hội học như phiếu điều tra (thăm dò dư luận); phỏng vấn, chuyên gia (đánh giá thẩm định), quan sát, thực nghiệm… để thu thập thêm các dấu hiệu, thông tin bổ sung cho các thông tin thu nhận được từ thống kê. Các phương pháp nghiên cứu chọn lọc này thường được sự dụng trong việc nghiên cứu tội phạm ẩn, nạn nhân của tội phạm, các nhân tố cá nhân, môi trường, động cơ, lý do phạm tội, phương pháp, thủ đoạn thực hiện phạm tội, thiệt hại do các tội pham gây ra, hiệu quả của các biện pháp phòng chống tội phạm đã thực hiện, dư luận xã hội về tình hình tội phạm và công tác đấu tranh với nó. Các phương pháp nghiên cứu xã hội học chỉ được sử dụng trong các nghiên cứu tội phạm học chọn lọc. Bản chất của việc nghiên cứu chọn lọc chỉ là nghiên cứu một bộ phận (có chọn lọc) trong tổng thể nhưng kết quả thu được lại phản ứng đặc điểm, tính chất, quy luật của tất cả các hiện tượng trong tổng thể đó.

Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu các hiện tượng đã được chọn lọc có thể không phản ánh đúng toàn bộ tổng thể các hiện tượng nếu việc chọn lọc không cẩn thận, chính xác. Muốn biết sai số của việc nghiên cứu chọn lọc, cần phải dựa vào công thức do khoa học thống kê đưa ra. Mức độ sai số của phân tích chọn lọc phụ thuộc vào số lượng và thành phần các hiện tượng đã được chọn lọc trong tổng thể các hiện tượng. Để hạn chế mức độ sai số của việc nghiên cứu chọn lọc cần phải tăng số lượng các hiện tượng chọn lọc.

c) Phương pháp phiếu điều tra (thăm dò dư luận)

Phương pháp phiếu điều tra trong tội phạm học là tổng hợp các kĩ thuật, chiến thuật hỏi câu hỏi đạt kết quả các nhờ sự phân tích các tài liệu, số liệu thu nhận được từ những người được hỏi đã trả lời những câu hỏi viết trong bảng câu hỏi (phiếu điều tra).

Tổ chức các câu trả lời phải sử dựng hai hình thức hỏi:

Thứ nhất, câu hỏi đúng: Loại câu hỏi này có nhiều câu trả lời loại trừ lẫn nhau để người trả lời phải lựa chọn cậu trả lời. Ví dụ: Câu hỏi: Xin vui lòng cho biết thái độ của gia đình khi biết anh/chị nghiện ma tuý?

Thứ hai, câu hỏi mở không đặt cấu trúc như vậy cho câu trả lời và để cho người trả lời tự do theo nhận thức của họ. Chẳng hạn:

Câu hỏi: Tại sao anh/chị lại nghiên ma tuý? hoặc

Tại sao anh/chị bị lừa đảo mất tài sản mà lại không khai báo cho cơ quan công an?

Phương pháp phiếu điều tra thường được áp dụng khi nghiên cứu về nạn nhân của tội phạm, nguyên nhân phạm tội của một số loại tội phạm cụ thể, đặc điểm cá nhân người phạm tội… Để thu được lượng thông tin khách quan đòi hỏi phải tuân thủ nguyên tắc giấu tên khi hỏi. Mặt khác, nó còn như thuộc vào người được hỏi và khả năng tổ chức cuộc điều tra của cán bộ nghiên cứu.

d) Phương pháp phỏng vấn

Phương pháp phỏng vấn về cơ bản giống với phương pháp phiếu điều tra. Điểm khác nhau giữa hai phương pháp này ở chỗ người trả lời trong cuộc phỏng vấn là trả lời cho nhồng câu hỏi miệng. Trong các cuộc phỏng vấn, mức độ tổ chức của các câu hỏi có thể biến đổi

Phỏng vấn tự do (phỏng vấn hoàn toàn không có tổ chức). Người phỏng vấn đơn giản chỉ trao đổi với người trả lời. Trong thời gian trao đổi chuyện trò với người trả lời có thể hỏi xoay vào những điểm mà người phỏng vấn quan tâm. Dạng phỏng vấn này có thể tìm hiểu cặn kẽ về thế giới của người trả lời và khám phá ra những đặc điểm thuộc về nhân thân cá nhân người được hỏi.

Phỏng vấn có trọng tâm là dạng phỏng vấn mà ở đó các câu hỏi đã được chuẩn bị tập trung vào những vấn đề đặc biệt theo những trật tự nhất định với những lời lẽ dung để hỏi cho phù hợp. Dạng phỏng vấn này được sử dụng để thu nhận ý kiến của xã hội với mục đích là thu nhận kết quả đối chứng càng nhiều càng tốt.

Phỏng vấn có tổ chức là loại phỏng vấn mà thứ tự và lời lẽ câu hỏi được chuẩn bị trước và mỗi người được hỏi một câu theo một cách thức với những câu hỏi nối tiếp theo cùng thứ tự vào mọi lúc. Dạng phỏng vấn này được sử dụng để nghiên cứu sự thay đổi diễn ra trong cuộc sống xã hội hoặc trong ý thức, tư tưởng của quần chúng sau thời gian nhất định.

Kết quả thu nhận được trong quá trình phỏng vấn được ghi chép trong sổ tay cuối cuộc phỏng vấn có thể ghi nội dung cuộc phỏng vấn bằng các mã số. Mục đích của mã hoá là sự chuyển đổi các câu trả lời cho các câu hỏi sang các biểu tượng có thể so sánh với nhau. Cái lợi của việc viết mã số là ở chỗ các câu trả lời có thể chuyển sang một cái thẻ có bấm lỗ (thẻ máy tính) và hầu như bất cứ loại so sánh nào giữa tập hợp những câu trả lời khác nhau đều có thể tiến hành một cách dễ dàng với sự trợ giúp của máy tính.

e) Phương pháp quan sát

Phương pháp quan sát là phương pháp nghiên cứu các quan hệ xã hội trong thực tiễn cuộc sống. Trong tội phạm học đối tượng quan sát cơ bản là điều kiện sống của người đã phạm tội, quá trình giáo dục cải tạo của người, phạm tội, kết quả của các biện pháp phòng ngừa… Có ba loại quan sát:

Thứ nhất, quan sát bên ngoài (toàn phần). Người quan sát đối tượng từ bên ngoài và không can thiệp vào các quan hệ của đối tượng. Ví dụ như nghiên cứu quá trình hình thành nhân cách người phạm tội. Người quan sát không tham gia vào quan hệ gia đình, quan hệ ở nơi sản xuất quan hệ sinh hoạt khác của người đó.

Thứ hai, quan sát bên trong. Người quan sát tham gia tổ chức cần quan sát và tiến hành quan sát từ bên trong. Trong tội phạm học, phương pháp này được sử dụng khi nghiên cứu nguyên nhân và điều kiện phạm tội ở trong các tổ chức nhất định. Ví dụ: Trường học, cơ sở kinh tế, các cơ quan cải tạo (nhà tù, trường giáo dưỡng, trung tâm cái nghiện…).

Thứ ba, quan sát tham gia. Đây là loại quan sát tích cực nhất. Người quan sát không những tham gia vào tổ chức cần quan sát mà còn tích cực tham gia trực tiếp vào các hoạt động của tổ chức ấy như thành viên trong tổ chức. Loại quan sát này thường được sử dụng trọng quá trình giáo dục cải tạo người phạm tội, đánh giá kết quả các biện pháp phòng ngừa.

Ngoài ra, trong tội phạm học còn sử dụng một loại quan sát nữa đó là loại “tự quan sát”. Cán bộ nghiên cứu thu thập những tài liệu do người phạm tội tự quan sát ghi lại như nhật kí, thư từ, điện tín có thể giúp cho cán bộ nghiên cứu tội phạm hiểu rõ về nhân thân người phạm tội và nguyên nhân phạm tội của cá nhân đó.

f) Phương pháp thực nghiệm

Tội phạm học sử đụng phương pháp thực nghiệm khi nghiên cứu các biện pháp phòng ngừa nhằm đánh giá hiệu quả của nó. Chẳng hạn, áp dụng biện pháp phòng ngừa tội trộm cắp ở các cơ quan. Nếu các biện pháp có hiệu quả cao, chúng sẽ được áp dụng một cách rộng rãi phổ biến ở tất cả các cơ quan khác.

Trong việc nghiên cứu tội phạm học, tất cả các phương pháp nêu trên đều được phối hợp sử dụng với nhau nhằm thu thập được tài liệu một cách đầy đủ, toàn diện, chính xác, hạn chế được những sai lầm bảo đảm cho chúng ta thu được kết quả nghiên cứu đúng đắn, khách quan hiệu quả nhất.

2. Ý nghĩa của việc nghiên cứu tình hình tội phạm

Việc nghiên cứu tình hình tội phạm có ý nghĩa vô cùng to lớn. Kết quả của việc nghiên cứu tình hình tội phạm cho chúng ta cái nhìn tổng quan về tội phạm đã xảy ra. Cái nhìn tổng quan này không chỉ thể hiện đặc điểm định lượng (tổng số tội phạm cũng như tổng số người phạm tội – con số phản ánh mức độ nghiêm trọng của tội phạm đã xảy ra) mà còn thể hiện cả đặc điểm định tính (các cơ cấu bên trong của tội phạm và của người phạm tội mà những cơ cấu này phản ánh tính chất nghiêm trọng của tội phạm đã xảy ra). Bên cạnh đó, nó còn thể hiện tình trạng tĩnh của các tội phạm đã xảy ra và cả diễn biến (tăng, giảm hoặc tương đối ổn định về số lượng cũng như về tính chất) của tình trạng này.

Nghiên cứu tình hình tội phạm không chỉ dừng lại ở mô tả “bức tranh tội phạm” mà đòi hỏi còn phải phân tích “bức tranh”, so sánh các “bức tranh” với nhau để qua đó có được sự đánh giá đầy đủ và toàn diện tính nghiêm trọng của tội phạm đã xảy ra – nghiêm trọng về mức độ cũng như nghiêm trọng về tính chất.

Mô tả và phân tích “bức tranh tội phạm” trong nghiên cứu tình hình tội phạm không phải chỉ để biết những gì đã xảy ra mà quan trọng hơn là để giải thích, phát hiện nguyên nhân, để dự liệu tội phạm sẽ xảy ra như thế nào trong thời gian tới và qua đó tạo cơ sở cho việc đưa ra các biện pháp phòng ngừa tội phạm.

Nghiên Cứu Khoa Học: Phương Pháp Tự Học

NGHIÊN CỨU KHOA HỌC: PHƯƠNG PHÁP TỰ HỌC – CẦU NỐI GIỮA HỌC TẬP VÀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Đà Nẵng

DIỆP THỊ THANH

Self-study is a way of learning which is very neccessary for college students. It is the responsibility of not only learners but also teachers to organize qualified, scientific and effective self-study activities. This paper writes about the self-study method as a link between learning and doing scientific research of students so as to improve the training quality of the college.

Chất lượng và hiệu quả giáo dục được nâng cao khi và chỉ khi tạo ra được năng lực sáng tạo của người học, khi biến được quá trình giáo dục thành quá trình tự giáo dục. Luật Giáo dục đã ghi rõ: “Phương pháp giáo dục đại học phải coi trọng việc bồi dưỡng năng lực tự học, tự nghiên cứu, tạo điều kiện cho người học phát triển tư duy sáng tạo, rèn luyện kỹ năng thực hành, tham gia nghiên cứu, thực nghiệm, ứng dụng”. Như vậy, phương pháp dạy và học

các trường đại học, cần thực hiện theo ba định hướng: – Bồi dưỡng năng lực tự học, tự nghiên cứu; – Tạo điều kiện cho người học phát triển tư duy sáng tạo; – Rèn luyện kỹ năng thực hành, tham gia nghiên cứu, ứng dụng.

1. Đặc trưng của hoạt động học ở các trường đại học

1.1. Quá trình học tập của sinh viên ở các trường đại học về bản chất là quá trình nhận thức có tính chất nghiên cứu

Trong quá trình học tập, mỗi sinh viên tự mình chiếm lĩnh hệ thống tri thức, kỹ năng, phải nắm vững những cơ sở của nghề nghiệp tương lai và có tiềm năng vươn lên thích ứng với những yêu cầu trước mắt và lâu dài do thực tiễn xã hội đặt ra. Muốn vậy, khi tiến hành hoạt động học tập, sinh viên không chỉ phải có năng lực nhận thức thông thường mà cần tiến hành hoạt động nhận thức mang tính chất nghiên cứu trên cơ sở khả năng tư duy độc lập, sáng tạo phát triển ở mức độ cao. Điều đó có nghĩa là, dưới vai trò chủ đạo của thầy, sinh viên không nhận thức một cách máy móc chân lý có sẵn mà còn đào sâu hoặc mở rộng kiến thức…

Mặt khác, trong quá trình học tập, sinh viên đã bắt đầu thực sự tham gia hoạt động tìm kiếm chân lý mới. Đó là hoạt động tập dượt nghiên cứu khoa học được tiến hành ở các mức độ từ thấp đến cao tuỳ theo yêu cầu của chương trình. Hoạt động nghiên cứu khoa học này giúp sinh viên từng bước tập vận dụng những tri thức khoa học, phương pháp luận khoa học, những phẩm chất, tác phong của nhà nghiên cứu nhằm góp phần giải quyết một cách khoa học những vấn đề do thực tiễn xã hội, thực tiễn nghề nghiệp đặt ra.

1.2. Tự học và nghiên cứu khoa học

1.2.2. Nghiên cứu khoa học

Trong quá trình học tập bao giờ cũng có tự học, nghĩa là tự mình lao động trí óc để chiếm lĩnh kiến thức. Trong tự học, bước đầu thường có nhiều lúng túng nhưng chính những lúng túng đó lại là động lực thúc đẩy sinh viên tư duy để thoát khỏi “lúng túng”, nhờ vậy mà thành thạo lên, và đã thành thạo thì hay đặt những dấu hỏi, phát hiện vấn đề và từ đó đi đến có đề tài nghiên cứu.

Việc nghiên cứu khoa học dĩ nhiên tác động trở lại việc học và có phát triển tự học lên đến nghiên cứu khoa học thì mới có thực tiễn để hiểu sâu mối quan hệ giữa tư duy độc lập và tư duy sáng tạo.

2. Phương pháp tự học có tác dụng bồi dưỡng năng lực tự học, kỹ năng tự học làm cầu nối giữa học tập và nghiên cứu khoa học của sinh viên

Hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên là loại hình hoạt động rất cơ bản do tính chất đặc thù của quá trình ở trường đại học… Khả năng nghiên cứu khoa học của sinh viên phải chứa đựng cả mục đích nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu, tri thức về phương pháp và đối tượng nghiên cứu và các yếu tố kỹ thuật khác của hoạt động nghiên cứu. Theo chúng tôi, khả năng nghiên cứu khoa học của sinh viên là năng lực thực hiện có hiệu quả các hoạt động nghiên cứu khoa học trên cơ sở lựa chọn, tiến hành hệ thống các thao tác trí tuệ và thực hành nghiên cứu khoa học phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh nhất định nhằm đạt mục đích nghiên cứu khoa học đề ra.

Khi coi hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên là một loại hình hoạt động học tập đặc trưng ở đại học, hoạt động này có thể diễn ra theo các giai đoạn sau:

Định hướng nghiên cứu;

Xây dựng kế hoạch nghiên cứu;

Thực hiện kế hoạch nghiên cứu;

Kiểm tra, đánh giá kết quả nghiên cứu;

Báo cáo kết quả nghiên cứu.

Khả năng nghiên cứu khoa học có mối liên hệ chặt chẽ với kết quả nghiên cứu và xa hơn nữa, đến kết quả học tập và khả năng tự học của sinh viên đại học. Do vậy, khả năng nghiên cứu khoa học trở thành loại hình kỹ năng học tập rất cơ bản mà sinh viên cần chú trọng bồi dưỡng và rèn luyện.

3. Biện pháp thực hiện

3.1. Sinh viên cần nắm vững kiến thức của hệ thống phương pháp học tập tích cực

Trong quá trình học tập, việc xác định mục đích, xây dựng động cơ, lựa chọn phương pháp, hình thức tự học hợp lý là cần thiết. Song điều quan trọng là sinh viên phải có hệ thống kỹ năng tự học. Điều này có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sinh viên, bởi lẽ muốn có kỹ năng nghề nghiệp trước hết phải có kỹ năng làm việc độc lập, trên cơ sở phát huy tính tích cực nhận thức để chiếm lĩnh hệ thống tri thức. Vì tri thức là sản phẩm của hoạt động, muốn nắm vững tri thức và có tay nghề thì việc rèn luyện hệ thống kỹ năng tự học một cách thường xuyên và nghiêm túc phải được chú trọng ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường.

Như vậy, để hoạt động học tập của sinh viên đạt chất lượng và hiệu quả, sinh viên phải có tri thức và kỹ năng tự học. Chính kỹ năng tự học là điều kiện vật chất bên trong để sinh viên biến động cơ tự học thành kết quả cụ thể và làm cho sinh viên tự tin vào bản thân mình, bồi dưỡng và phát triển hứng thú, duy trì tính tích cực nhận thức trong hoạt động tự học của họ.

3.2. Vận dụng hệ các phương pháp tự học nêu trên vào chu trình tự học của sinh

Đó là một chu trình ba giai đoạn:

Giai đoạn 1- Tự nghiên cứu: Người học tự tìm tòi, quan sát, mô tả, giải thích, phát hiện vấn đề, định hướng, giải quyết vấn đề, tự tìm ra kiến thức mới (chỉ mới đối với người học) và tạo ra sản phẩm ban đầu hay sản phẩm thô có tính chất cá nhân.

Tự nghiên cứu (1)

Tự kiểm tra

điều chỉnh (3)

Tự thể hiện (2)

Giai đoạn 2 – Tự thể hiện: Người học tự thể hiện mình bằng văn bản, bằng lời nói, tự trình bày, bảo vệ kiến thức hay sản phẩm cá nhân ban đầu của mình, tự thể hiện qua sự đối thoại, giao tiếp với các bạn và thầy, tạo ra sản phẩm có tính chất xã hội của cộng đồng lớp học.

Giai đoạn 3 – Tự kiểm tra, tự điều chỉnh: Sau khi tự thể hiện mình qua sự hợp tác trao đổi với các bạn và thầy, sau khi thầy kết luận, người học tự kiểm tra, tự đánh giá sản phẩm ban đầu của mình, tự sửa sai, tự điều chỉnh thành sản phẩm khoa học.

Chu trình tự nghiên cứu ® tự thể hiện® tự kiểm tra, tự điều chỉnh “thực chất cũng là con đường” phát hiện vấn đề, định hướng giải quyết, và giải quyết vấn đề của nghiên cứu khoa học.

3.3. Rèn luyện phương pháp tự học phải trở thành một mục tiêu học tập của sinh

Tự học có ý nghĩa to lớn đối với bản thân sinh viên để hoàn thành nhiệm vụ học tập của họ đối với chất lượng, hiệu quả của quá trình dạy học – đào tạo trong nhà trường. Tự học là sự thể hiện đầy đủ nhất vai trò chủ thể trong quá trình nhận thức của sinh viên. Trong quá trình đó, người học hoàn toàn chủ động và độc lập, tự lực tìm tòi, khám phá để lĩnh hội tri thức dưới sự chỉ đạo, điều khiển của giáo viên.

Để phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của mình, sinh viên cần tự rèn luyện phương pháp tự học, đây không chỉ là một phương pháp nâng cao hiệu quả học tập mà là một mục tiêu quan trọng của học tập. Có như vậy thì phương pháp tự học mới thực sự là cầu nối

giữa học tập và nghiên cứu khoa học. Phương pháp tự học sẽ trở thành cốt lõi của phương pháp học tập.

Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước cùng với sự bùng nổ của công nghệ thông tin, của những tri thức mới, sự tăng lên gấp bội của sáng tạo công nghệ và kỹ thuật, sự mở rộng của các ngành nghề… đòi hỏi con người phải có năng lực tự học, tự đào tạo để thích ứng.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trong quá trình học tập ở trường đại học của sinh viên thì tự học, tự nghiên cứu là rất quan trọng và cái ranh giới học tập – nghiên cứu khoa học là gần gũi, khó phân định. Nhưng để học tốt, nghiên cứu khoa học có hiệu quả thì sinh viên cần khai thác và quan tâm đúng mức về vai trò “cầu nối” của phương pháp tự học.

Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Đắc Hưng, Giáo dục Việt Nam hướng tới tương lai vấn đề và giải pháp, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2004.

Nguyễn Nghĩa Dán, Vì năng lực tự học sáng tạo của học sinh, Tạp chí “Nghiên cứu Giáo dục”, số 2/ 1998.

Đặng Vũ Hoạt, Một số nét về thực trạng, phương pháp dạy học đại học, Tạp chí “Nghiên cứu Giáo dục”, số 1/ 1994.

Phạm Trọng Luận, Về khái niệm “Học sinh là trung tâm”, Tạp chí “Nghiên cứu Giáo dục”, số 2/ 1995.

Thái Duy Tuyên, Giáo dục học hiện đại – Những vấn đề cơ bản, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, 2001.

Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí