Top 3 # Ý Nghĩa Phương Pháp Tách Chiết Adn Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 1/2023 # Top Trend | Sansangdethanhcong.com

Phương Pháp Tách Chiết Adn Từ Xương Người

[et_pb_section fb_built=”1″ admin_label=”section” _builder_version=”3.0.47″][et_pb_row admin_label=”row” _builder_version=”3.0.48″ background_size=”initial” background_position=”top_left” background_repeat=”repeat”][et_pb_column type=”4_4″ _builder_version=”3.0.47″ parallax=”off” parallax_method=”on”][et_pb_text admin_label=”Text” _builder_version=”3.0.74″ background_size=”initial” background_position=”top_left” background_repeat=”repeat”]

Như bất kỳ một bước khởi đầu bất kỳ của các loại tách chiết ADN, việc khử trùng mẫu được thực hiện để giảm thiểu nguy cơ lây nhiễm mẫu chéo. Bề mặt của mẫu xương cần được xử lý ban đầu bằng thuốc tẩy và nước cất. Ngoài ra tất cả các dụng cụ sử dụng phải được khử trùng bằng nồi hấp nhiệt. Đối với các dụng cụ lớn hơn mà không thể hấp khử trùng dùng thuốc tẩy và cồn làm sạch bề mặt mà mẫu tiếp xúc. Pipet và các dụng cụ xử lý mẫu cần thao tác trong tủ hút sạch.

Phương pháp tách chiết ADN từ xương người

Trước đây, phương pháp tách chiết phổ biến nhất đó là nghiền mẫu cơ học. Các mẫu xương sau khi được làm sạch bằng thuốc tẩy và nước cất. Bề mặt ngoài của xương được mài sạch. Các mẫu xương sau đó được nghiền thành bột. Tiếp đến là các quy trình kiểm tra bằng máy để trả về kết quả xét nghiệm. Tuy nhiên, phương pháp này hiện nay không còn được áp dụng rộng rãi. Bởi tốn khá nhiều thời gian và công sức. Bên cạnh đó dễ xảy ra trường hợp có lẫn ADN khác vào.

Tại ADN Center, chúng tôi cung cấp hệ thống máy móc hiện đại nhất hỗ trợ việc lấy ADN từ xương người với công nghệ nghiền mẫu trực tiếp trên máy.

Lịch sử hình thành:

Nhờ hệ hống máy móc tiên tiến, khi đưa mẫu xương người vào. Máy sẽ có quá trình tách triết tự động. Giảm thiểu những bước bên ngoài cũng nhưng khả năng có ADN khác bị nhiễm vào. Từ đó giúp tăng độ chính xác.

Liên hệ với chúng tôi để được ứng dụng phương pháp tách chiết ADN từ xương người hiện đại nhất:

PHÒNG THÍ NGHIỆM TRỌNG ĐIỂM CÔNG NGHỆ GEN – VIỆN CÔNG NGHỆ SINH HỌC

Địa chỉ: Tầng 4, Toà nhà A10, Số 18 Hoàng Quốc Việt, Quận Cầu Giấy, TP. Hà Nội

Thu mẫu: Lầu 5, toà nhà CIC số 305 đường 3/2, Phường 10, Quận 10, TP. Hồ Chí Minh

Liên hệ để được nhận tư vấn từ chuyên gia: 086.55.11.589

[/et_pb_text][/et_pb_column][/et_pb_row][/et_pb_section]

Nguyên Lý Cơ Bản: Tách Chiết Adn Bằng Phenol

Tách chiết bằng phenol là một phương pháp thường được sử dụng để loại bỏ protein ra khỏi một mẫu ADN, ví dụ như mẫu ly giải tế bào trong quá trình tách chiết ADN hệ gen. Mặc dù được sử dụng rộng rãi nhưng phương pháp này không được nhiều người nắm rõ.

Quy trình căn bản

Chúng ta sẽ bắt đầu với những nét chính về các bước của quy trình tách chiết. Đầu tiên, một lượng phenol được thêm vào hỗn hợp dịch lỏng chứa protein và ADN cần tinh sạch.

Vì phenol và nước không tan vào nhau nên hình thành hai lớp dung dịch: lớp nước (dịch lỏng hỗn hợp ở trên) và lớp phenol. Phenol nặng hơn nước nên nằm ở dưới.

Sau đó trộn kỹ hai lớp này với nhau. Phenol trộn với lớp nước sẽ tạo thành nhũ tương giọt dầu trong nước. Các protein có trong nước sẽ bị biến tính và hòa vào trong phenol, trong khi ADN vẫn ở nguyên trong nước.

Sau khi hỗn hợp được đem ly tâm, hai lớp phenol và nước lại tách nhau ra. Lớp nước bên trên chứa ADN được hút ra và phần dịch phenol có protein sẽ bị loại bỏ. Thường thì sau đó ADN sẽ được loại muối và kết tủa bằng ethanol.

Đầu tiên, cần nói một chút về các dung môi…

Để giải thích tại sao việc thêm phenol vào lại có thể phân tách ADN và protein, chúng ta cần đề cập tới các dung môi.

Dung môi là một chất, thường là dung dịch lỏng có thể hòa tan các chất khác. Nói rộng ra, các dung môi có thể được phân loại theo tính phân cực của chúng, phụ thuộc vào sự chênh lệch về mật độ điện tích trên phân tử.

Nước là dung môi rất phân cực bởi vì nguyên tử oxy có độ âm điện lớn vì thế nó “hút” các điện tử về phía nó và cách xa với vị trí của các nguyên tử hydro, điều này tạo ra điện tích âm trên oxy và điện tích dương trên nguyên tử hydro, chính sự chênh lệch điện tích này đã tạo ra sự phân cực cho nguyên tử nước.

Phenol là một phân tử ít phân cực hơn nước. Mặc dù nó có nguyên tử oxy với độ âm điện cao nhưng lại được trung hòa bởi cấu trúc vòng phenyl cũng có độ âm điện rất lớn, vìvậy không có sự tập trung mật độ điện tích xung quanh nguyên tử oxy, dẫn đến không có sự phân cực lớn trong phân tử phenol.

ADN tan tốt nhất trong nước

Vậy điều này giúp gì cho việc phân tách ADN và protein?

Nhìn chung thì các hợp chất phân cực hòa tan tốt nhất trong các dung môi phân cực còn các phân tử không phân cực hòa tan tốt nhất trong các dung môi không phân cực.

ADN là một phân tử phân cực do các điện tích âm trên khung phosphate, vì vậy nó rất dễ tan vào trong nước và khó tan hơn vào phenol. Điều này nghĩa là khi nước (+ADN +protein) và phenol được trộn lẫn vào với nhau, ADN sẽ không tan vào phenol mà sẽ ở lại trong nước.

Độ tan của protein bị thay đổi bởi phenol

Nhưng, protein lại là một câu chuyện hoàn toàn khác.

Như các bạn biết, protein được tạo thành từ các chuỗi dài các amino acid. Mỗi amino acid có đặc tính riêng, do bản chất của các nhóm bên. Một vài amino acid như phenylalanine, leucine và tryptophan không phân cực bởi vì các nhóm bên của chúng chứa tiểu phần không mang điện. Ngược lại, các amino acid có các nhóm bên chứa tiểu phần mang điện thì chúng phân cực (ví dụ như glutamate, lysine and histidine).

Sự khác nhau về tính phân cực của các nhóm bên rất quan trọng về mặt sinh học bởi vì chúng xác định cách thức mà chuỗi peptide cuộn gập thành các protein có chức năng. Đơn giản hơn là, các chuỗi peptide cuộn gập theo cách mà càng nhiều các nhóm bên ít phân cực hơn nằm phía trong protein càng tốt (tránh xa dung môi), trong khi những nhóm bên có tính phân cực tương tự với dung môi được phân bố ở bên ngoài protein. Một cách giải thích khác là các nhóm bên phân cực thì ưa nước và các nhóm bên không phân cực thì kỵ nước. Các nhóm bên kỵ nước thì trốn ở bên trong protein còn các nhóm ưa nước thì ở bên ngoài.

Trong tế bào chất, các protein được cuộn gấp lại dưới sự ảnh hưởng của dung môi là nước, nhưng khi protein tiếp xúc với các dung môi ít phân cực hơn, như phenol chẳng hạn, thì cách cuộn gấp của chúng thay đổi.

Về cơ bản thì cấu trúc protein“lộn từ trong ra ngoài” khi nó ở trong phenol. Những thành phần ít phân cực hơn được giấu bên trong khi protein trong nước, giờ muốn tương tác với phenol nên chúng lộn ra ngoài. Ngược lại, các thành phần phân cực lại bị lộn vào trong của một protein cấu trúc hình cầu để được bảo vệ khỏi dung môi mới không thích hợp.

Nói tóm lại, protein bị biến tính vĩnh viễn bởi môi trường dung môi mới là phenol. Khi ở trong nước các thành phần phân cực ở bề mặt của protein khiến nó tan tốt; còn khi tiếp xúc với phenol, sự thay đổi cấu trúc cuộn gấp do phenol ép các thành phần ưa phenol ra phía ngoài vì thế khiến cho protein trở nên dễ tan trong phenol hơn là trong nước.

Dịch và tổng hợp từ Bitesizebio.com

BioMedia VN

Các Phương Pháp Tách Chiết Axit Nucleic

DNA có kích thước lớn, mọi việc chiết tách cần phải tránh mọi tác nhân cơ học, hoá học tới phân tử DNA này.

Việc tách DNA từ tế bào vi khuẩn được chia làm bốn bước cơ bản

Nuôi cấy và thu sinh khối

Tùy từng loại vi khuẩn mà người nghiên cứu chuẩn bị môi trường và điều kiện nuôi cấy khác nhau như nhiệt độ, độ pH, và điều kiện dinh dưỡng thích hợp cho sự phát triển của vi khuẩn.

Tách tế bào ra khỏi dịch nuôi cấy bằng cách ly tâm và làm sạch tế bào. Thông thường khoảng 1.000ml dịch nuôi cấy li tâm và thu lấy khoảng 10ml cặn vi khuẩn.

Phá vỡ màng tế bào và giải phóng các thành phần bên trong

Axít nucleic được giải phóng ra khỏi màng tế bào bằng phương pháp hóa học và sinh học để thu dịch chiết tế bào.

Enzyme lysozyme là một enzyme có trong lòng trắng trứng hoặc phage T4, có khả năng phá vỡ thành phần trùng hợp của thành tế bào. EDTA (TrilonB) tạo phức với Mg dạng hòa tan và làm vỡ thành tế bào. Đồng thời EDTA ngăn không cho enzyme trong tế bào phân hủy DNA. Người ta còn có thể phá vỡ màng tế bào và giải phóng DNA ra khỏi liên kết histon bằng chất tẩy rửa SDS (Sodium Derecyl Sylfat) hoặc enzyme protease.

Các chất phá vỡ màng này làm li giải màng, tách rời các phần tử lipit và gây ra sự gẫy màng tế bào.

Làm sạch DNA từ dịch chiết tế bào

Loại bỏ các thành phần không mong muốn như protein, lipit và các thành phần khác bằng kết tủa phân đoạn. Mẫu được lắc mạnh trong hệ dung môi phenol-chloroform để biến tính, kết tủa protein và giải phóng axít nucleic vào dung dịch lỏng. Protein bị biến tính sẽ tách ra khỏi pha nước có chứa DNA sẽ được tách ra nhờ ly tâm. Dịch nổi gồm axit nucleic và nước được hút ra và tiếp tục phân hủy RNA bằng enzyme RNase. Sau đó, tách DNA và nước để thực hiện bước phân tích tiếp theo.

Thu hồi DNA dạng đặc

Mục đích của bước này là thu DNA dạng cô đặc, nhằm bảo vệ chúng khỏi sự phân hủy của enzyme. Có 2 phương pháp kết tủa

Kết tủa DNA trong etanol với sự có mặt Na+ nồng độ cao, nhiệt độ thấp, tỷ lệ giữa etanol và mẫu phân tích là 3:1.

Kết tủa trong izopropanol, tỷ lệ giữa rượu và mẫu là 1:1. Với phương pháp này không cần sự có mặt của muối và loại được DNA có phân tử lượng thấp. Ly tâm cao tốc và thu nhận DNA dạng cô đặc.

Trong cả hai phương pháp, DNA thu được sẽ rửa trong etanol-70% để loại izopropanol và muối để thu được DNA tinh khiết.

Việc tách DNA plasmid ra khỏi DNA nhiễm sắc thể là rất khó khăn. Tuy nhiên người ta có thể dựa vào sự khác nhau lý hóa giữa hai loại DNA như: kích thước, hình thái, cấu trúc của chúng.

Về nguyên tắc được tiến hành theo 3 bước sau

Bước 1

Sau khi thu hồi và làm sạch các tế bào có chứa plasmid, người ta xử lý trong hỗn hợp SDS, EDTA hoặc NaOH làm DNA sợi đôi biến tính thành DNA sợi đơn nằm cạnh nhau.

Bước 2

Xử lý hỗn hợp trên trong môi trường đệm (NaCH3COO+CH3COOH) để kết tủa protein và SDS dạng tập hợp.

Bước 3

Đưa về môi trường trung tính, DNA sợi đơn được hồi tính trở lại. Còn DNA (NST) do dài nên hồi tính chậm và kết tủa cùng SDS. Tách DNA plasmid bằng cách kết tủa trong etanol hoặc izopropanol, sau đó ly tâm tách được plasmid tinh sạch.

Ngoài vi khuẩn, DNA của virus, của tế bào thực vât, động vật cũng có thể tiến hành tách để phục vụ cho công nghệ di truyền. Các giai đoạn làm sạch tương tự như trên. Chỉ có giai đoạn nuôi cấy và phá vỡ màng tế bào thì khác, tuy nhiên, tùy từng loại tế bào mà có những cách xử lý sao cho thích hợp.

Tách RNA tổng số

RNA được tiến hành chiết tách gồm các bước cơ bản tương tự như DNA (bao gồm phá vỡ màng tế bào, loại protein, tủa RNA) nhưng ở đây ta dùng enzyme desoxyribonuclease (DNase) để phân huỷ DNA. Do RNA kém bền và dể bị phân huỷ bởi enzyme ribonuclease (RNase) có nhiều ở khắp nơi, hoạt tính cao lại bền với nhiệt (trên 90°C), vì vậy, điều kiện thao tác để chiết tách phải được tiến hành trong môi trường vô cùng nghiêm ngặt. Phương pháp chung để tách RNA tổng số được tiến hành như sau

Tế bào được nghiền với chất tẩy rửa SDS, sarcocyl nồng độ cao, nitơ lỏng để biến tính protein. Đồng thời mẫu cũng được nghiền với chất khử (2-mercaptoethanol) để ức chế RNase. Nước sử dụng cũng được xử lý với DEPC (Diethylpyrocarbonat) cũng để loại bỏ RNase.

Các protein, DNA được loại bỏ qua xử lý mẫu với hỗn hợp dung môi Trizol (phenol pH=4, guanidinium thiocyanate, glycerol, sodium acetate), khi ly tâm, ta tách được RNA trong pha nước. DNA ở pH=4 bị hấp phụ vào pha dưới cùng với phenol, protein biến tính nằm giữa hai pha cũng bị loại cùng với DNA cùng với pha phenol. RNA trong pha nước được hút ra sau đó tủa bằng izopropanol để -20°C, li tâm và rửa lại bàng ethalnol 79%, thu hồi RNA tinh khiết, bảo quản lạnh để làm các thí nghiệm tiếp theo. Chất lượng của RNA tổng số được đánh giá sơ bộ qua điện di trên gel agarose.

Tách từng loại RNA khác nhau

Dựa vào kích thước trọng lượng phân tử, người ta có thể tiến hành sắc kí, điện di hoặc ly tâm để tách từng loại RNA. Phương pháp tách mRNA

Do kích thước bé lại chiếm lượng nhỏ (1÷5%) RNA tổng số, có cấu trúc đa dạng nên không thể tách bằng phương pháp trên.

Nhờ đặc điểm mRNA có đuôi polyA, do đó, người ta tách mRNA ra khỏi mẫu bằng phương pháp sắc ký ái lực oligodt-xenlulose.

Ngày nay trên thị trường có loại viên bi từ, trên bề mặt có gắn oligodt. Sau khi mRNA bám trên bề mặt các viên bi từ, thông qua liên kết bổ sung với oligodt, các viên bi này thu nhận và đem ly tâm ta thu được mRNA tinh khiết.

Lưu ý rằng, để tách mRNA, người ta đi từ tế bào biệt hoá, lượng mRNA nhiều và đây cũng là con đường nghiên cứu cấu trúc gen mã hoá. Ngày nay người ta đã tổng hợp được ngân hàng mRNA.

Ngày nay, người ta có thể thu nhận gen để thực hiện kỹ thuật di truyền bằng ba phương pháp

Tách các đoạn DNA từ bộ gen

Đây là phương pháp sử dụng rộng rãi ngay từ buổi đầu tiên của sự phát triển kỹ thuật DNA tái tổ hợp. Toàn bộ phân tử DNA của một sinh vật được cắt nhỏ thành những đoạn có kích thước 1,5÷2kb bằng restriction enzyme (RE). Điện di hoặc sắc kí để tách đoạn DNA tinh khiết, sau đó gắn vào vector chuyển gen, tạo plasmid DNA tái tổ hợp.

Nhược điểm là tốn nhiều công sức và thời gian nhưng ngày nay người ta vẫn sử dụng để tạo ngân hàng DNA bộ gen (genonic DNA libraries).

Sự tổng hợp gen bằng phương pháp hoá học

Năm 1969, gen nhân tạo đầu tiên được tổng hợp do nhóm nghiên cứu Khorama, đó là gen mã hoá tổng hợp tRNA vận chuyển amino axit (alamin) ở nấm men gồm 77 cặp nucleotide. Gen đầu tiên không được biểu hiện vì không có các trình tự điều hoà.

Về sau, chính nhóm này đã tổng hợp được gen có hoạt tính: đó là gen mã hóa cho chất ức chế tRNA vận chuyển tyrosine ở E. Coli, có chiều dài khoảng 200 cặp nucleotide.

Vào năm 1977, K. Itakura và Boyer đã tổng hợp được gen mã hóa sinh tổng hợp hormone somatostatin của động vật có vú được biểu hiện ở E. Coli. và từ đó, nòi E. Coli mang gen tổng hợp hóa học được tạo ra. Sau này, người ta tổng hợp hóa học gen mã hóa hormone tăng trưởng của người dàì 584pb.

Phương pháp tổng hợp hóa học gen cũng được sử dụng để tạo ra nòi vi khuẩn tổng hợp insulin, một loại hormone chữa bệnh tiểu đường cho người. Gen insuline được tổng hợp từ hơn 40 đoạn oligonucleotide khác nhau, sau đó, được nối lại nhờ enzyme lygase để tạo ra hai chuỗi polynucleotide dài 271 và 286bp mã hóa, tổng polypeptide A có 21 aminoaxit, polypeptide B có 30 aminoaxit.

Qua các kết quả thu được, các nhà khoa học đã khẳng định rằng: muốn tổng hợp được gen bằng phương pháp hoá học cần phải biết trình tự của axit amin ở protein mà gen đó chịu trách nhiệm tổng hợp.

Sinh tổng hợp gen từ mRNA

Tổng hợp cDNA từ mRNA nhờ kỹ thuật của Gubler và Hoffman với sự có mặt của enzyme phiên mã ngược (Rever transcriptase – Hình dưới). Sau đó, cDNA (complementary) gắn vào plasmid và biến nạp vào vi khuẩn để tạo dòng cDNA. Phương pháp này được trình bày ở Chương 6 (thiết lập thư viện cDNA).

Ưu điểm là: Gen thu nhận bằng phương pháp này đã loại bỏ được những trình tự không mã hoá. Bằng con đường này, người ta đã tạo dòng gen mã hoá tổng hợp globine của người, động vật và chim, protein thủy tinh thể mắt bò, ovalbumine (protein lòng trắng trứng) và fibroin tơ tằm.

Vào năm 1992 các nhà khoa học Mỹ đã tạo được dòng cDNA của 2.375 gen của bộ não người. Phương pháp tổng hợp gen từ mRNA ngày càng được phát triển, nó kết hợp với các phương pháp khác của sinh học phân tử và được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực.

Sơ đồ tổng hợp gen từ mRNA

Phương Pháp Tách Chiết Rna Tổng Số Và Mrna

Cách đây ít ngày, HappyVet có chia sẻ về quy trình tách chiết DNA, bài viết này chúng ta sẽ tiếp tục đi tìm hiểu về phương pháp tách chiết RNA tổng số và mRNA để mọi người cùng hiểu và ứng dụng vào thí nghiệm phân tử, di truyền, sinh học một cách tốt nhất.

Phương pháp tách chiết RNA

Kỹ thuật tách chiết RNA là một trong những quy trình phức tạp với nhiều phương pháp, thủ thuật khác nhau. Mặc dù vậy nhưng kết quả thu được đảm bảo được chất lượng cao và sử dụng được nhiều kỹ thuật phân tích.

Để thu nhận được RNA tinh sạch, bạn cần phải loại bỏ hoàn toàn những thành phần tạp chất, nhất là protein. Tách chiết dựa trên nguyên tắc hòa tan khác nhau của các phân tử khác nhau trong hai pha không hòa tan.

Quy trình tách chiết RNA tổng số

Cũng giống với DNA, RNA được tiến hành tách chiết theo các bước cơ bản bao gồm: Phá vỡ màng tế bào, loại bỏ protein và tủa RNA. Quy trình tách chiết được diễn ra như sau:

– Biến tính protein bằng việc nghiền tế bào với chất tẩy rửa SDS, sarcocyl nồng độ cao, nitơ lỏng. Đồng thời, mẫu cũng được nghiền với chất khử 2-mercaptoethanol nhằm ức chế RNase. Nước sử dụng trong quá trình tách chiết cũng cần được xử lý bằng DEPC (Diethylpyrocarbonat) để loại bỏ RNase.

– Các protein, DNA được loại bỏ qua xử lý mẫu với hỗn hợp dung môi Trizol, sau đó ly tâm ta tách được RNA trong pha nước. DNA ở độ pH – 4 sẽ bị hấp thụ vào pha dưới cùng với Phenol, protein sẽ biến tính và nằm giữa hai pha sẽ bị loại bỏ cùng DNA và Phenol.

– Lúc này, RNA trong pha nước sẽ được hút ra sau đỏ tủa bằng izopropanol để -20°C, tiến hành ly tâm và rửa lại bằng ethalnol 79%. Cuối cùng, thu hồi RNA tinh khiết và bảo quản lạnh ở -70 o C để làm thí nghiệm tiếp theo.

Quy trình tách chiết RNA khác nhau

Tùy vào kích thước trọng lượng phân tử mà bạn có thể tiến hành sắc kí, điện di hoặc ly tâm để tách từng loại RNA khác nhau. Kỹ thuật tách chiết RNA được diễn ra như sau:

mRNA có đuôi polyA nên bạn tiến hành tác RNA ra khỏi mẫu bằng phương pháp sắc ký ái lực oligodt-xenlulose. Bạn có thể sử dụng viên bi từ, trên bề mặt có gắn oligodt sẽ liên kết với mRNA và giúp chúng bám trên bề mặt bi. Lúc này, các viên bi sẽ thu nhận và đem ly tâm ra thu được mRNA tinh khiết.

Kit tách chiết RNA

Những phương pháp tách chiết trên có tính ứng dụng cao tuy nhiên quy trình làm thủ công, tốn thời gian và tốn công sức và khó tự động hóa. Chính vì thế mà các bộ kit ra đời để tối ưu những nhược điểm trên.

Hiện nay, hầu hết các phòng thí nghiệm đều sử dụng kit ly trích axit nucleic taco ™ trong phương pháp tách chiết RNA. Ưu điểm của bộ kit này là mẫu nhỏ nhưng thu được sản phẩm RNA là rất lớn. Kit được thiết kế đặc biệt để sử dụng với hệ thống ly trích axit nucleic tự động taco ™, dễ dàng sử dụng.

Đây là công cụ thuận tiện, nhanh chóng và tách chiết RNA tổng số từ các mẫu, loại bỏ các chất ức chế, thu được RNA tinh sạch phục vụ cho các quá trình nghiên cứu.

Ngoài các bộ kit tách chiết, HappyVet còn cung cấp thêm các loại kit iiPCR Pockit, kit Real time PCR,…. phục vụ công tác chẩn đoán bệnh trên thú y, thủy sản và nghiên cứu.

Vừa rồi là những kiến thức tổng quan về phương pháp tách chiết RNA mà HappyVet chia sẻ để bạn đọc tham khảo. Nếu bạn đang có nhu cầu tìm hiểu và sử dụng Kit tách chiết DNA/ RNA hãy liên hệ ngay số HOTLINE 0983.600.953 để được tư vấn và báo giá chi tiết.