Xem Nhiều 2/2023 #️ Tri Thức, Quản Trị Tri Thức Và Kinh Tế Tri Thức # Top 10 Trend | Sansangdethanhcong.com

Xem Nhiều 2/2023 # Tri Thức, Quản Trị Tri Thức Và Kinh Tế Tri Thức # Top 10 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Tri Thức, Quản Trị Tri Thức Và Kinh Tế Tri Thức mới nhất trên website Sansangdethanhcong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Tri thức

Để hiểu rõ khái niệm tri thức ta phân biệt tri thức với các khái niệm tương đồng khác là dữ liệu, thông tin, trí tuệ.

Dữ liệu là những con số hoặc dữ kiện thuần túy, rời rạc mà quan sát hoặc đo đếm được không có ngữ cảnh hay diễn giải. Dữ liệu được thể hiện ra ngoài bằng cách mã hóa và dễ dàng truyền tải. Dữ liệu được chuyển thành thông tin bằng cách thêm giá trị thông qua ngữ cảnh, phân loại, tính toán, hiệu chỉnh và đánh giá.

Thông tin là những mô hình hay tập hợp dữ liệu đã được tổ chức lại và diễn giải đặt trong bối cảnh và nhằm một mục đich cụ thể. Thông tin là những thông điệp thường được thể hiện theo dạng văn bản hoặc giao tiếp có thể thấy được hoặc không thấy được… nhằm mục đích thay đổi cách nhận thức của người nhận thông tin về vấn đề cụ thể, và gây ảnh hưởng đến sự đánh giá và hành vi của người nhận. Vì thông tin là những dữ liệu được tổ chức lại vì một mục đích nào đó, vì vậy mà nó sẽ giảm bớt sự không chắc chắn. Đó cũng chính là sự khác biệt của thông tin với dữ liệu. Tương tự như dữ liệu, thông tin được mã hóa và tương đối dễ dàng truyền tải.

Tri thức là thông tin được cấu trúc hóa, được kiểm nghiệm và có thể sử dụng được vào mục đích cụ thể. Tri thức thường thể hiện trong những hoàn cảnh cụ thể kết hợp với kinh nghiệm và việc phán quyết hay ra quyết định. Để truyền tải thì đòi hỏi sự học tập của người tiếp nhận tri thức. Như vậy nếu một thông tin giúp chúng ta nhận thức và đưa ra quyết định thì là tri thức. Thông tin trở thành “đầu vào” được nạp vào trong não, qua quá trình xử lý sẽ tạo ra tri thức. Nhưng quá trình xử lý này với mỗi một cá nhân khác nhau sẽ cho ra những “đầu ra” khác nhau. Có nghĩa là cùng một thông tin như vậy nhưng với mỗi cá nhân thì tri thức mà anh ta nhận thức được sẽ khác với tri thức mà người khác nhận thức. Thông tin là những dữ liệu được cấu trúc hóa được thể hiện ra ngoài và ai cũng có thể tiếp cận. Nhưng tri thức thiên về những thông tin được cấu trúc hóa và cá nhân hóa nằm trong mỗi con người cụ thể, do đó khả năng tiếp cận khó hơn và sự thể hiện ra ngoài không phải lúc nào cũng chính xác.

Trí tuệ là khả năng sử dụng tri thức một cách khôn ngoan nhằm đạt được mục đích của mình. Trí tuệ gắn liền với con người và sự đánh giá, phán xét và hoạch định các hành động. Cùng có tri thức như nhau nhưng mỗi người sẽ hành xử một cách khác nhau vì trí tuệ của mỗi người là khác nhau tức là khả năng sử dụng tri thức của mỗi người là khác nhau nên sẽ tạo ra kết quả khác nhau.

Tri thức là những dữ liệu, thông tin được cấu trúc hóa, kiểm nghiệm và sử dụng được vào một mục đích cụ thể tạo ra giá trị.

Chúng ta có thể chia ra làm 3 loại tri thức: Một là tri thức hiện (explicit knowledge); hai là tri thức ngầm (tacit knowledge) và ba là tri thức tiềm năng (implicit knowledge).

Tri thức hiện (Explicit knowledge): Đây là những tri thức được giải thích và mã hóa dưới dạng văn bản, tài liệu, âm thanh, phim, ảnh thông qua ngôn ngữ có lời hoặc không lời, nguyên tắc hệ thống, chương trình máy tính, chuẩn mực hay các phương tiện khác. Những tri thức có cấu trúc thường được thể hiện ra ngoài và dễ dàng chuyển giao. Ví dụ như các tri thức về chuyên môn được trình bày trong giáo trình, sách, báo, tạp chí… Những tri thức đã được cấu trúc hóa thường là tri thức hiện.

Trong tác phẩm có sức ảnh hưởng rất mạnh của mình–Công ty Sáng tạo Kiến thức–Nonaka và Takeuchi đã phân biệt tri thức hiện và tri thức ngầm. Tri thức hiện là các tri thức được hệ thống hóa trong các văn bản, tài liệu, hoặc các báo cáo, chúng có thể được chuyển tải trong những ngôn ngữ chính thức và có hệ thống.

Tri thức ngầm (Tacit knowledge): Tri thức mà một người có được một cách tự giác vô thức. Tri thức ẩn có thể không lý giải hay lập luận được bởi vì (1) tri thức ẩn không được hiểu cặn kẽ, (2) nó quen thuộc, tự động và vượt qua ý thức người sở hữu nó. Ví dụ như: bí quyết, niềm tin, kinh nghiệm, sự nhạy cảm trong công việc…

Nonaka và Takeuchi cũng cho rằng: tri thức ngầm là nhưng tri thức không thể hoặc là rất khó được hệ thống hóa trong các văn bản, tài liệu, các tri thức này mang tính cá nhân, gắn liền với bối cảnh và công việc cụ thể. Tri thức ngầm rất khó để thể hiện trên các tài liệu, nhưng lại có tính vận hành cao trong bộ não của con người.

Những tri thức này là dạng tri thức nằm trong đầu con người. Nhiều người cho rằng đây là phần lớn tri thức bên trong một tổ chức. Những gì mà con người biết thì thường giá trị hơn là những gì được viết ra. Vì vậy tạo ra mối liên hệ giữa người không biết và người biết là một khía cạnh hết sức quan trọng của một tổ chức. Mục tiêu của quản trị tri thức là giúp chia sẻ những tri thức ngầm bên trong một tổ chức sao cho mọi người đều có thể sử dụng những kiến thức chuyên môn trong một lĩnh vực nhất định để giải quyết vấn đề cho khách hàng và tạo nên những sản phẩm hiệu quả hơn. Ta có thể ví tri thức trong mỗi con người và tổ chức giống như tảng băng trôi, nếu tri thức bộc lộ là phần nổi thì tri thức ngầm là phần chìm.

Tri thức tiềm năng (Implicit knowledge – còn gọi là “potential knowledge”): Tri thức được chứa dưới dạng ngôn ngữ có lời hoặc không lời, hành động (cả khi ghi hình hay thể hiện dưới dạng một phần của hệ thống truyền thông), mạng lưới những bộ óc đã được đào tạo, tri thức gắn trong công nghệ, văn hóa, thực tiễn… Hầu hết các doanh nghiệp đều có những dữ liệu thể hiện doanh số bán hàng, khách hàng. Những doanh số này thể hiện tri thức tiềm năng – là những số liệu mà từ đó tri thức mới có thể rút ra được nếu như dữ liệu này được truy cập và phân tích.

Như vậy, nếu nhìn nhận tri thức trong phạm vi của tổ chức, chúng ta thấy bất kỳ tổ chức nào cũng đều tồn tại ba dạng tri thức trên, chỉ có điều tổ chức có biết mình đang nắm giữ những tri thức nào? chúng nằm ở đâu? ai nắm giữ? và cách thức sử dụng như thế nào? để khai thác một cách hiệu quả tri thức nhắm phục vụ cho quá trình hoạt động hay sản xuất kinh doanh chính của tổ chức để tạo ra giá trị mà thôi.

Quản trị tri thức

Có rất nhiều cách tiếp cận và định nghĩa khác nhau tuỳ theo cách nhìn và phương thức của mỗi cá nhân hay tổ chức. Chúng bao gồm có quản lý, việc học hỏi của cá nhân và tổ chức, giao tiếp, công nghệ và các hệ thông thông tin, trí tuệ nhân tạo, tài sản tri thức,…Không có một định nghĩa hay một cách tiếp cận thống nhất về quản trị tri thức nào cả, nhưng lại có những nội dung có thể bao quát toàn bộ. Quản trị tri thức bao gồm con người, các cách thức và quá trình, các hoạt động, công nghệ và một môi trường rộng hơn thúc đẩy việc định dạng, sáng tạo, giao tiếp hay chia sẻ và sử dụng các tri thức cá nhân cũng như tri thức của tổ chức. Nó là về những qui trình quản lý việc tạo ra, phát tán và sử dụng tri thức để đạt được mục tiêu tổ chức. Nó đòi hỏi sự kết hợp giữa nhận thức kinh doanh, thái độ và thực tiễn sáng tạo, những hệ thống, chính sách và những thủ tục được tạo ra để giải phóng sức mạnh của thông tin và ý tưởng.

Quản trị tri thức nhằm đến các quá trình sáng tạo, nắm bắt, chuyển giao và sử dụng tri thức để nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức. (Public Service Commission of Canada, 1998).

Quản trị tri thức đưa tri thức ngầm lên bề mặt, tổng hợp chúng thành những dạng dễ dàng lưu trữ và truy cập hơn, đồng thời thúc đẩy tính sáng tạo của nó. (Birket)

Quản trị tri thức là quá trình tạo mới, phân phối và sử dụng tri thức một cách hiệu quả. (Davenport)

“Quản trị tri thức là quá trình có hệ thống của việc nhận dạng, thu nhận, và chuyển tải những thông tin và tri thức mà con người có thể sử dụng để sáng tạo, cạnh tranh, và hoàn thiện” (Trung tâm Năng suất và Chất lượng Hoa Kỳ – Trích dẫn bởi Serban và Luan).

Quản trị tri thức là một quá trình, một công cụ quản lý hiệu quả nhằm chia sẻ, thu nhân, lưu giữ, lựa chọn, sáng tạo tri thức và cung cấp đúng người, đúng nơi, đúng lúc nhằm nâng cao hiệu quả quyết định, hiệu quả thực thi và khả năng thích ứng của tổ chức.

Kinh tế tri thức

Các tiêu chí của nền kinh tế tri thức bao gồm:

• Cơ cấu GDP: Hơn70% do các nghành sản xuất và dịch vụ ứng dụng công nghệ cao.

• Cơ cấu giá trị gia tăng: Hơn 70% do lao động trí óc mang lại.

• Cơ cấu lao động: Hơn 70 % là “công nhân tri thức”.

• Cơ cấu tư bản: Hơn 70 % là Tư bản con người.

Tuy hiện nay Việt Nam chưa xây dựng một chiến lược phát triển kinh tế tri thức, giống như một số nước khác trong khu vực và trên thế giới, song một số văn bản chính thức của Đảng và Nhà nước ta đã khẳng định công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá nước ta rất coi trọng vận dụng các yếu tố của kinh tế tri thức. Trong hoàn cảnh hội nhập quốc tế và đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, việc phát triển một đội ngũ trí thức làm cơ sở cho việc dịch chuyển sang nền kinh tế tri thức là một việc quan trọng và cấp bách. Điều này cũng thể hiện rất rõ trong chính sách của Đảng ta trong giai đoạn hiện nay. Hội nghị Trung ương lần thứ 7 Ban Chấp hành (khóa X) của Đảng ta cũng dành trọng tâm cho việc xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ hội nhập. Chúng ta cần tạo ra một môi trường kinh tế – xã hội tạo điều kiện thuận lợi nhất cho sự sản sinh, phổ biến và sử dụng tri thức. Trong nền kinh tế tri thức, việc chuyển biến tri thức thành sức mạnh sản xuất đạt tới trình độ cao. Do vậy, tri thức trở thành yếu tố sản xuất quan trọng nhất và đội ngũ trí thức ngày càng đóng vai trò quan trọng trong công cuộc xây dựng đất nước.

TRÍ THỨC VÀ NHẬN DẠNG TRÍ THỨC

Việc xây dựng tiêu chí để phân định và nhận dạng trí thức trong giai đoạn hiện nay phải dựa vào những khái niệm nền tảng như tri thức, quản trị tri thức, kinh tế tri thức. Việc định nghĩa và phân loại trí thức phụ thuộc rất nhiều vào mục đích phân loại để làm gì?”. Về phương diện chính trị, những người làm cách mạng cần định nghĩa và phân loại để xây dựng liên minh giai cấp nhằm xây dựng các thể chế khác nhau. Theo cách đó họ quan niệm những người có học vấn, tư tưởng tiến bộ là trí thức. Nhưng trên phương diện sản xuất kinh doanh, trí thức là những người nào có khả năng tiếp nhận, nắm giữ, sáng tạo và ứng dụng tri thức để tạo ra sản phẩm trí tuệ hay sản phẩm vật chất cụ thể cho xã hội. Ví dụ: Công ty Tâm Việt làm đào tạo và tư vấn, có những em sinh viên năm thứ nhất đã giảng dạy được và tạo ra dịch vụ cho xã hội, thu nhập cho công ty thì là trí thức chứ không nhất thiết em đó phải tốt nghiệp đại học hay cao đẳng.

Theo quan niệm của chúng ta từ trước tới nay, những người tốt nghiệp đại học hoặc cao đẳng mới là trí thức và chính vì quan niệm này nên chúng ta tạo nên một trào lưu học để lấy bằng cấp. Muốn trở thành trí thức thì chúng ta phải cố để lấy một cái bằng đại học dù là chính quy, tại chức hay bằng II… Điều này tạo ra những con người có kinh nghiệm đi thi nhưng lại thiếu tri thức và kỹ năng để làm việc. Họ có kỹ năng giỏi nhất là kỹ năng thi nhưng làm việc thì lại không thể. Một thực tế rất buồn trong giới sử dụng lao động. Họ thử việc nhiều sinh viên xuất sắc, thậm chí là thủ khoa các trường đại học nhưng cuối cùng đành phải ngậm ngùi chia tay vì các em có nhiều thông tin nhưng lại thiếu tri thức và kỹ năng để làm việc cụ thể. Được hỏi cái gì cũng biết nhưng giao việc cụ thể thì lại không làm được. Dù đất nước chúng ta đi xuống, đi ngang hay đi lên, dù kinh tế đất nước suy thoái hay phát triển… thì trong tất cả những giai đoạn ấy đều cần những người làm được việc. Những người không làm được việc thì chẳng có lý do gì tồn tại cả. Đó là một triết lý đơn giản của những người làm sản xuất kinh doanh.

Nếu chúng ta quan niệm và phân loại trí thức theo bằng cấp thì không hợp lý. Hiện nay có nhiều người không bằng cấp gì nhưng lại làm những việc phi thường và tạo ra những kết quả phi thường. Chúng ta có thế lấy một vài ví dụ: Em Trương Ngọc Đại 13 tuổi học sinh lớp 8A trường THCS Ngô Gia Tự, Hà Nội, đã làm ra phần mềm “An toàn khi tham gia giao thông” là cá nhân duy nhất lọt vào vòng chung khảo cuộc thi Trí tuệ Việt Nam 2007. Em đã viết 4 phần mềm, có hơn 40 bằng khen, giấy khen. Vậy thì em Đại có phải là trí thức hay không? Nếu không phải là trí thức thì làm sao em ấy có thể tạo ra được phầm mềm mà các kỹ sư phầm mềm không tạo ra được? Nhưng nếu xét theo bằng cấp thì rõ ràng em ấy mới chỉ học lớp 8 làm gì có bằng đại học, cao đẳng hay tiến sĩ!

Như vậy chúng ta còn có tiêu chí thứ hai, đó là tiêu chí về kỹ năng làm việc. Có những người là thạc sĩ, tiến sĩ, kỹ sư…. được đào tạo rất bài bản, học từ nước ngoài về, nhưng lại không vận hành nổi máy móc, không tạo được sản phẩm trí tuệ hay sản phẩm vật chất phục vụ xã hội. Còn có những người, đặc biệt là các anh chị trong giới doanh nhân, nông dân, công nhân, họ không được học hành chính quy, không bằng cấp nhưng họ là những tấm gương đáng để chúng ta ngưỡng mộ. Người nông dân cũng có thể làm những công việc yêu cầu hàm lương tri thức cao và họ cũng cần phải học hỏi rất nhiều. Vậy vấn đề đặt ra là những tri thức phục vụ trong cuộc sống, trong kinh doanh, nằm trong đầu mỗi con người… được đo lường như thế nào và nên chăng chúng ta có thể định nghĩa và phân loại trí thức dựa trên kỹ năng và khả năng sáng tạo và sử dụng tri thức đó không.

Như vậy: Trí thức là một bộ phận tinh hoa của tất cả các giai tầng xã hội (có thể là doanh nhân, có thể là nông dân, có thể là công nhân…) có khả năng chia sẻ, thu nhận, lưu giữ, lựa chọn, sáng tạo tri thức để đóng góp vào quá trình tạo ra của cải cho xã hội.

Để phân định và nhận dạng trí thức, chúng ta dùng tiêu chí phân loại là khả năng nắm giữ tri thức và vận dụng tri thức vào công việc của anh ta để sản xuất ra những sản phẩm cụ thể.

QUẢN TRỊ TRI THỨC VÀ GIẢI PHÁP XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC

Giải pháp thứ nhất: Chính sách sử dụng trí thức

Chúng ta có nhiều người tài, người giỏi nhưng không sử dụng, dẫn đến một thực tế là chúng ta trải thảm đỏ mời họ nhưng lại không có chính sách sử dụng hợp lý nên họ lại ra đi. Chúng ta có các chính sách thu hút đầu vào nhưng lại thiếu những cơ chế và cá nhân đủ mạnh để duy trì liên tục. Trong các cơ quan và doanh nghiệp Nhà nước con đường thăng tiến vẫn bị chi phối quá nhiều bởi yếu tố quan hệ, thâm niên công tác mà ít dựa vào tài năng và đóng góp thực sự. Nhiều trí thức rơi vào tình trạng “ngồi chơi xơi nước”, “dao sắc thời gian, cắt gọt tâm hồn”. Nhiều người đầy kỹ năng, đầy nhiệt huyết nhưng không có cơ chế để họ phát huy. Thù lao cũng là điều rất quan trọng cần xem xét. Trước đây văn hóa Đảng ta xây dựng nên là “cống hiến, hi sinh”, chúng ta huy động cả đất nước lao ra mặt trận, mỗi người làm việc gấp 2 gấp 3. Nhưng bây giờ thế giới thay đổi, thời kỳ chiến tranh không còn mà thay vào đó là thời kỳ xây dựng đất nước. Chính vì vậy văn hóa cũng phải thay đổi cho phù hợp. Người ta không thể cống hiến hết mình trong khi bụng đói, nhu cầu cơ bản không được đảm bảo. Người ta không thể chuyên tâm nếu như lương không đủ trang trải cho cuộc sống hàng ngày của họ. Chúng ta cần xây dựng lại chính sách thu hút, sử dụng, đánh giá và đãi ngộ trí thức theo hướng thực tế hơn và biến nó thành hiện thực chứ không chỉ nằm trên giấy tờ. Giải pháp thứ hai: Triển khai chương trình quốc gia về quản trị tri thức

Để trí thức phát huy sức mạnh và vai trò của mình thì cần có môi trường. Quản trị tri thức là một lĩnh vực mà thế giới đã nhắc đến cách đây chục năm nhưng lại là một lĩnh vực còn mới mẻ đối với Việt Nam. Khi bắt tay vào nghiên cứu thì chúng ta chỉ có thể học được từ nước ngoài như ở Malaysia và Mỹ… Nếu tìm khắp Việt Nam thì sẽ tìm ra được một người nghiên cứu về Quản trị tri thức là Gs. Hồ Tú Bảo nhưng ông lại đang dạy ở một trường đại học ở Tokyo. Như vậy chúng ta vẫn chưa thực sự tiếp cận và quan tâm đúng mức đến việc nghiên cứu, phát triển và ứng dụng quản trị tri thức vào cuộc sống. Quản trị tri thức giúp chúng ta chia sẻ, đánh giá, lưu giữ, sáng tạo và phát triển tri thức. Nó tạo ra môi trường để bẩt cứ cá nhân nào cũng có thể tiếp nhận, nắm giữ, chia sẻ, sáng tạo và ứng dụng tri thức để chúng ta trở thành những con người trí thức có thể vận hành công việc ở các vị trí cụ thể. Quản trị tri thức cũng giúp các doanh nghiệp không còn đau đầu về bài toán nhân sự như hiện nay và những vấn đề như một người nắm giữ nhiều tri thức của doanh nghiệp và khi đi thì doanh nghiệp rơi vào tình trạng điêu đứng. Hiện nay, các doanh nghiệp lại là người tiên phong nghiên cứu và ứng dụng quản trị tri thức chứ không phải là giới nghiên cứu và hoạch định chính sách.

Để kinh tế có sự dịch chuyển thực sự sang nền kinh tế tri thức, để xây dựng được đội ngũ trí thức mạnh đáp ứng như cầu phát triển, chúng ta cần xây dựng và triển khai một chương trình quốc gia về Quản trị tri thức triển khai rộng rãi trong các cơ quan, doanh nghiệp. Có như vậy chúng ta mới thực sự tăng hàm lượng tri thức trong sản phẩm, dịch vụ, trong GDP. Chúng ta không phải xuất khẩu nguyên liệu thô nữa mà huy động được trí tuệ tập thể từ công nhân viên cho đến lãnh đạo. Để triển khai việc này, Đảng và Chính phủ phải có quan tâm đầu tư và giao cho các bộ, ngành, viện nghiên cứu để nghiên cứu về vấn đề này. Giao cho Hội các nhà Doanh nghiệp trẻ Việt Nam và Hội tri thức trẻ Việt Nam làm lực lượng nòng cốt để triển khai. Chỉ có giới trẻ mới là lực lượng tiên phong, dám nghĩ, dám làm thì chúng ta mới làm được. Nếu chúng ta cứ làm theo cách cũ thì chắc chắn chúng ta không nhận được kết quả như cũ vì thế giới thay đổi quá nhanh nên bắt buộc chúng ta thay đổi tư duy và thay đổi cách làm.

KẾT LUẬN

Như vậy, trí thức là một bộ phận tinh hoa của tất cả các giai tầng xã hội (có thể là doanh nhân, có thể là nông dân, có thể là công nhân…) có khả năng chia sẻ, thu nhận, lưu giữ, lựa chọn, sáng tạo tri thức để đóng góp vào quá trình tạo ra của cải cho xã hội.

Để “xây dựng đội ngũ trí thức trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập quốc tế”, chúng ta phải thức hiện đồng bộ các giải pháp trong đó ưu tiên hàng đầu là:

Thứ nhất, chúng ta cần xây dựng lại chính sách thu hút, sử dụng, đánh giá và đãi ngộ trí thức theo hướng thực tế hơn và biến nó thành hiện thực chứ không chỉ nằm trên giấy tờ.

Thứ hai, xây dựng và triển khai một chương trình quốc gia về Quản trị tri thức triển khai rộng rãi trong các cơ quan, doanh nghiệp.

Chỉ có như vậy chúng ta mới có thể huy động được sức mạnh và phát huy vai trò đội ngũ trí thức đáp ứng nhu cầu giai đoạn mới, giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập quốc tế./

Nguyễn Vinh (theo TVGroup)

Thông tin khác:

Thêm ý kiến

Tri Thức Và Tri Thức Phương Pháp

Sau mỗi quá trình học tập, người học không chỉ đơn thuần thu được những tri thức khoa học (khái niệm mới, định lí mới,… ) mà còn phải nắm được những tri thức phương pháp (dự đoán, giải quyết, nghiên cứu…). Đó chính là những tri thức phương pháp vừa là kết quả vừa là phương tiện của hoạt động tạo cho học sinh một tiềm lực quan trọng để hoạt động tiếp theo.

Các tri thức truyền thụ cho học sinh trong quá trình dạy học thường có các dạng:

Tri thức sự vật: Những hiểu biết về hiện thực khách quan mà con người đã tích lũy được. Trong môn toán đó là: khái niệm, định lí, có khi là một yếu tố lịch sử.

Tri thức phương pháp: Gồm có hai loại, phương pháp có tính chất thuật toán và phương pháp có tính chất tìm đoán.

Tri thức giá trị: Có nội dung là những mệnh đề đánh giá. Ví dụ như: “Khái quát hóa là một thao tác trí tuệ cần thiết cho mọi khoa học” hay “phép tương tự có lẽ là có mặt trong mọi phát minh và trong một số phát minh nó chiếm vai trò quan trọng hơn cả”. (Theo G.Polya)

Trong những dạng tri thức kể trên thì tri thức phương pháp đóng một vai trò quan trọng trong việc tổ chức hoạt động vì đó là cơ sở định hướng cho hoạt động.

Những tri thức phương pháp trong dạy học toán có thể gặp khi tiến hành:

Những hoạt động toán học cụ thể như cộng hai phân số không cùng mẫu số, giải phương trình asin2 x + bsin x + c = 0…

Những hoạt động trí tuệ phổ biến như phân chia các trường hợp, tư duy hàm,…

Những hoạt động trí tuệ chung như phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa, tương tự,…

Những hoạt động ngôn ngữ logic như lập mệnh đề đảo, liên kết các mệnh đề nhờ các phép nối logic, điều kiện cần và đủ,…

Để tổ chức hoạt động có hiệu quả, người giáo viên cần nắm được tất cả những kiến thức phương pháp thích hợp có thể có chứa đựng trong nội dung bài dạy để chọn lựa cách thức, mức độ truyền thụ phù hợp. Bởi vì, những tri thức quá chung như lược đồ dựng hình 4 bước sẽ ít tác dụng hướng dẫn nhưng nếu quá chi tiết thì khó áp dụng cho các tình huống khác.

Đứng trước một nội dung dạy học, người giáo viên phải:

Xác định tập hợp tối thiểu những tri thức phương pháp cần truyền thụ.

Xác định yêu cầu về mức độ hoàn chỉnh của những tri thức phương pháp có tính chất tìm đoán. Những tri thức phương pháp quá chung sẽ ít tác dụng chỉ dẫn, điều khiển hoạt động. Mặt khác, những tri thức phương pháp rậm rạp lại có thể làm cho học sinh lâm vào tình trạng rối ren.

Xác định yêu cầu về mức độ tường minh của những tri thức phương pháp cần truyền thụ: truyền thụ tường minh hay là thông báo nhân quá trình tiến hành hoạt động, hay chỉ thực hiện ăn khớp với tri thức nào đó, hay là một hình thức trung gian giữa hình thức kể trên.

Xác định yêu cầu về mức độ chặt chẽ của quá trình hình thành tri thức phương pháp: dựa vào trực giác hay lập luận logic.

Những vấn đề trên hiện nay còn chưa được nghiên cứu đầy đủ. Tuy nhiên người có trách nhiệm giải quyết trước hết không phải là giáo viên mà là những người làm chương trình, viết sách giáo khoa.

Ví dụ:

TTPP cần truyền thụ Cách truyền thụ Hoạt động của GV Mức độ tường minh Mức độ hoàn chỉnh Mức độ chặt chẽ

1. Tri thức phương pháp có tính thuật toán

Dạy học một cách tường minh

Đầy đủ 3 bước

Lập luận logic

2. Tri thức phương pháp tìm đoán

Thông báo tường minh

Định hướng chung

Trực giác/trực quan

Thông báo trong quá trình dạy học. Thông báo này có thể được lặp lại trong nhiều cơ hội khác nhau, ở những thời điểm khác nhau.

3. Cả hai

Truyền thụ ngầm ẩn

Chiến lược

Lập luận logic

Tổ chức cho HS thực hiện nhiều hoạt động tương thích với một chiến lược, một định hướng giải quyết chung

Các mức độ truyền thụ tri thức phương pháp:

Truyền thụ tường minh những tri thức phương pháp đã quy định trong chương trình

Đối với những tri thức phương pháp quy định trong chương trình cần xuất phát từ chương trình và sách giáo khoa để lĩnh hội được mức độ hoàn chỉnh, mức độ tường minh và mức độ chặt chẽ của quá trình hình thành những tri thức phương pháp đó.

Một điều quan trọng trong việc truyền thụ và củng cố những tri thức phương pháp là nên phối hợp nhiều cách thể hiện những phương pháp đó.

Ví dụ: Phương pháp giải phương trình bậc hai tổng quát, các bước tiến hành để xây dựng đạo hàm,…

Thông báo tri thức phương pháp trong quá trình tiến hành hoạt động

Đối với những tri thức phương pháp chưa được quy định trong chương trình, ta vẫn có thể suy nghĩ khả năng thông báo chúng trong quá trình học sinh tiến hành hoạt động nếu những tiêu chuẩn sau đây được thỏa mãn:

Những tri thức phương pháp này giúp học sinh dễ dàng thực hiện một số hoạt động quan trọng nào đó được quy định trong chương trình.

Việc thông báo những tri thức này là dễ hiểu và tốn ít thời gian.

Ví dụ 1: Chứng minh định lí về tổng các góc trong của một tam giác.

Nhân việc kẻ thêm đường phụ trong khi chứng minh định lí này, có thể thông báo cho học sinh những tri thức phương pháp sau đây:

Để tìm cách chứng minh một định lí, có khi phải vẽ thêm đường phụ.

Việc vẽ thêm một đường phụ là xuất phát từ việc phân tích kĩ giả thiết và kết luận.

Ví dụ 2: Khi giải và biện luận phương trình sách giáo khoa dùng phép biến đổi hệ quả để đi đến 2 ax = a2 – 1 rồi thay vào phương trình đầu để lấy nghiệm nếu có phần phức tạp trong tính toán. Ta có thể hướng dẫn học sinh đặt thêm điều kiện phụ x ≤ a và coi đó là phép biến đổi tương đương rồi xét:

a = 0 phương trình vô nghiệm.

Qua đây, ta cung cấp cho học sinh một phương pháp biến đổi tương đương các phương trình chứa căn thức thường gặp nhưng sách giáo khoa không trình bày.

Chú ý rằng: Có thể những tri thức phương pháp này chưa làm ta thỏa mãn vì chúng cung cấp ít thông tin cho việc giải quyết bài toán. Nhưng vấn đề là ở chỗ: liệu nội dung tương ứng, liệu mục đích dạy học nội dung đó, liệu quỹ thời gian và những yếu tố khác có cho phép ta thông báo những tri thức phương pháp đó chi tiết hơn và có hiệu lực chỉ dẫn hoạt động tốt hơn hay không. Dù sao thì những tri thức phương pháp đó cũng giúp ích ít nhiều cho việc giải quyết bài toán đã đặt ra.

Tập luyện những hoạt động ăn khớp với những tri thức phương pháp

Đối với những tri thức phương pháp không quy định chương trình mà chỉ thỏa mãn tiêu chuẩn thứ nhất chứ không thỏa mãn tiêu chuẩn thứ hai đã nêu ở mục trên thì ta có thể đề cập ở mức độ thấp nhất: Chỉ tập luyện những hoạt động ăn khớp với những tri thức phương pháp đó.

Ví dụ 1: Rèn luyện khả năng chứng minh hình học.

Ví dụ này được trình bày dựa theo Walsch, 1975.

Một con đường có hiệu quả để phát triển ở học sinh năng lực chứng minh toán học là tạo điều kiện cho họ tập luyện dần dần những hoạt động ăn khớp với một chiến lược giải toán chứng minh hình học. Chiến lược này kết tinh lại ở học sinh như một bộ phận kinh nghiệm mà họ thu lượm được trong quá trình giải những bài toán này (mưa dầm thấm đất, cát bồi phù sa). Đương nhiên, sự kết tinh này không nên để diễn ra một cách tự phát mà trái lại cần có những biện pháp được thực hiện một cách có mục đích, có ý thức của giáo viên. Giáo viên luôn luôn lặp đi lặp lại một cách có dụng ý những chỉ dẫn hoặc câu hỏi như:

Hãy vẽ một hình theo những dữ kiện của bài toán. Những khả năng có thể xảy ra?

Giả thiết nói gì? Giả thiết còn có thể biến đổi như thế nào?

Từ giả thiết suy ra được điều gì? Những định lí nào có giả thiết giống hoặc gần giống với giả thiết của bài toán?

Kết luận nói gì? Điều đó còn có thể được phát biểu như thế nào?

Những định lí nào có kết luận giống hoặc gần giống với kết luận của bài toán?

Đã biết bài toán nào tương tực hay chưa?

Cần có kẻ thêm đường phụ hay không?

Những chỉ dẫn kiểu như các câu hỏi này gắn liền với những bài toán cụ thể nhưng được phát biểu một cách tổng quát để học sinh có thể vận dụng vào những tình huống tương khác nữa. Với thời gian, họ sẽ ý thức được những câu hỏi hoặc chỉ dẫn này được giáo viên sử dụng lặp đi lặp lại nhiều lần, sẽ dần dần lĩnh hội và vận dụng chúng như một chiến lược giải toán chứng minh hình học.

Minh họa: Tổ chức cho học sinh hoạt động để giải bài toán “Cho đường tròn C(O;R) và một điểm M sao cho OM = 3 R. Một đường kính AB di động quanh O. Chứng minh rằng đường tròn ngoại tiếp tam giác MAB luôn đi qua một điểm cố định.”

Những hoạt đông có thể tổ chức là:

Hãy vẽ hình và ghi các kí hiệu.

Những yếu tố nào không đổi, cố định?

Mối liên hệ giữa các yếu tố này với yêu cầu của đề bài?

Dự đoán điểm cố định và chứng minh.

Ví dụ 2: Rèn luyện khả năng tìm đoán.

Sau khi học sinh đã học định lí Côsi với hai số và bốn số không âm. Ta có thể tổ chức cho học sinh tìm đoán cách chứng minh bất đẳng thức cho trường hợp ba số không âm như sau:

Sau khi chứng minh trường hợp 2, 4 số ta có gì trong tay?

(1)

(2)

Ta phải chứng minh điều gì?

(3)

Hãy xét chứng minh bất đẳng thức (2) và xem có thể áp dụng cách ấy để chứng minh (3) không? (Trường hợp này không sử dụng (1) được vì số số hạng bị “lẻ”). Vậy ta chỉ còn cách sử dụng (2). Muốn vậy phải có 4 số không âm mà vế trái của (3) chỉ có 3 số hạng không âm. Nên ta phải thêm vào đó một số hạng thứ tư, gọi là x sao cho x phải không âm và không được làm thay đổi (3)!

Ta giải phương trình

và x ≥ 0.

Hãy áp dụng (2) với 4 số a1, a2, a3, x không âm:

(4)

Ta gặp một trở ngại nhỏ: ở vế phải của (4) ta cần căn bậc 3 nhưng lại có căn bậc 4! Hãy lưu ý biểu thức của x và tìm cách biến đổi:

(4)

Tổng kết lại những kết quả ta đã đạt được và cho biết bằng phương pháp tương tự ta sẽ chứng minh được những trường hợp nào nữa? Dự đoán trường hợp tổng quát với n số không âm?

↑ Được quy định trong chương trình

↑ Không được quy định trong chương trình

Giáo trình PPDH môn Toán, phần đại cương, Nguyễn Bá Kim, Vũ Dương Thụy, Nhà xuất bản giáo dục, 2000, 87. (khai thác chưa hết)

Giáo trình PPDH môn Toán, phần đại cương, Trần Khánh Hưng, Nhà xuất bản giáo dục, 1998, 61.

Tết Việt Nam Và Tết Trung Quốc Khác Gì Nhau? – Tri Thức Mỗi Ngày

Với mỗi người dân Việt Nam hay Trung Quốc, tết nguyên đán là dịp để mọi người có thể quây quần, đoàn tụ chung vui bên gia đình, và cũng là dịp để phô bày những nét văn hóa độc đáo của mỗi quốc gia. Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, tùy theo bản sắc dân tộc, phong tục ăn tết ở Việt Nam và Trung Quốc cũng có nhiều điểm tương đồng và khác biệt.

Điểm tương đồng giữa tết Việt Nam và Trung Quốc

Tết cổ truyền của người Trung Quốc cũng giống như tết người Việt Nam đều được tổ chức theo âm lịch. Điểm giống nhau đầu tiên khi nói về tết ở cả hai quốc gia là phong tục trong những ngày tết. Các gia đình sum họp bên nhau, đoàn tụ đón năm mới sau một năm làm việc vất vả, cùng thăm hỏi người thân, mừng tuổi và thờ cúng tổ tiên. Dịp tết người lớn sẽ tặng cho trẻ con những bao lì xì màu đỏ tươi để cầu chúc cho một năm mới may mắn, thành công và nhiều điều tốt đẹp.

Ở cả Việt Nam và Trung Quốc, nhắc đến tết là người ta sẽ nhớ đến màu đỏ, đó chính là màu sắc chủ đạo của tết nguyên đán, được xem là tượng trưng cho sự may mắn. Ngày tết xưa người ta vẫn còn giữ phong tục treo câu đối đỏ trước cửa để cầu chúc cho những điều tốt đẹp trong năm mới. 

Bữa cơm tất niên đêm giao thừa và phong tục sáng mùng 1 cũng là điểm giống nhau, đặc biệt giữa hai quốc gia. Bữa tối đêm giao thừa trở thành đại tiệc của gia đình với rất nhiều món ăn. Sau đó, mọi người sẽ đón chờ xem pháo hoa vào thời khắc chuyển giao giữa năm cũ và năm mới.

Sự khác biệt giữa tết Việt Nam và Trung Quốc

Thời gian ăn mừng tết có lẽ là điểm khác nhau rõ ràng nhất trong phong tục đón tết ở Việt Nam và Trung Quốc. Ở Việt nam không khí đón tết bắt đầu tràn ngập từ sau lễ tiễn ông công ông táo về chầu trời, ngày 23 tháng chạp. Thông thường, tết sẽ kéo dài đến hết mùng 7 tháng giêng. Còn ở Trung Quốc, truyền thống đón tết đến khá sớm, bắt đầu từ mùng 8 tháng chạp và kéo dài đến tận 15 tháng giêng.

Từ nguồn gốc ngày tết của mỗi quốc gia, ta có thể nhận thấy mỗi nước vẫn giữ được bản sắc văn hóa rất riêng. Tết truyền thống của Việt Nam xuất phát từ nền văn minh lúa nước, coi trọng tiết khởi đầu của chu kỳ canh tác trong một năm gọi là tiết nguyên đán, sau này được gọi chệch thành tết nguyên đán. Còn nguồn gốc tết cổ truyền của Trung Quốc xuất phát từ truyền thuyết chống lại con Niên, quái vật chuyên quấy phá con người vào mỗi dịp đầu năm. Sau này vào dịp tết, người ta treo đèn lồng đỏ, đốt pháo nổ, dán chữ đỏ để xua đuổi quái vật.

Nếu người việt thích lấy quất, đào, hay mai mang ý nghĩa thịnh vượng may mắn để trưng ngày tết, thì người Trung Quốc lại thích chơi hoa mơ, thủy tiên và cây cà tím. Đồ ăn ngày tết là điểm khác biệt lớn trong văn hóa tết cổ truyền của Việt Nam và Trung Quốc. Tại Việt Nam, bánh chưng và bánh tét, dưa hành, thịt gà là món ăn đặc trưng truyền thống từ thời Hùng Vương, còn ở Trung Quốc, những món ăn mang biểu tượng như cá, bánh cảo, mỳ Trung Hoa sẽ là những món ăn xuất hiện trên bàn ăn ngày tết.

Difference Between Attempt And Try

Key Difference – Attempt vs Try

Although attempt and try can be used as synonyms in many contexts, there is a difference between attempt and try in usage. The key difference between attempt and try is their level of formality; attempt is used in formal contexts whereas try is used in informal contexts. 

What does Attempt Mean?

Attempt can be used as both a noun and a verb. As a verb, attempt means to make an effort to achieve or complete something, typically something difficult. The noun attempt refers to the effort to achieve or complete a difficult task. Attempt is often associated with an unsuccessful effort. You can understand the meaning of this word more clearly by observing the following example sentences.

He attempted to leave the country several times.

You may not be able to achieve success on your first attempt, but you have to keep on trying.

He attempted to climb the mountain Everest.

Pierre attempted to read the book in one sitting.

She failed the English test on the first attempt, but she succeeded on her second attempt.

It is important to note that attempt is often used in formal contexts. In addition, the verb attempt is often followed by an object, gerund or an infinitive; it cannot occur at the end of a sentence.

What does Try Mean?

Try can also be used as a noun and a verb. The verb try has a similar meaning to attempt; it means to make an effort to achieve something. In addition, try can also refer to use, test, or do something new or different) in order to see if it is suitable, effective, or pleasant. Attempt does not have this meaning. For example,

I tried to call him, but his number was not working. – I attempted to call him, but his number was not working.

He tried to write a novel. – He attempted to write a novel.

Why don’t you try this dish? – Why don’t you attempt this dish?

Try can also be used at the end of a sentence, without any direct reference to the action. Moreover, try is mainly used in informal contexts.

I’m not sure I can do it, but I’ll try.

I’ll try again later.

When we are comparing attempt and try, it is important to note that attempt cannot be used in the above style. It is always used with direct reference to the action.

I’ll attempt again later. I’ll attempt it again later.

The noun try is also similar to the noun attempt; it refers to an effort to accomplish something. However, try is used in more informal contexts whereas attempt is used in formal contexts.

I will give it a try.

I wanted another try at it.

Definition of Verb:

Attempt means to make an effort to achieve or complete something difficult.

Try means to make an effort to achieve something.

Definition of Noun:

Attempt is the effort to achieve or complete a difficult task.

Try is an effort to accomplish something.

Alternative Meaning:

Try may refer to effort or experiment made in the hope of testing or proving something.

Attempt does not have the above meaning.

Context:

Attempt is used in formal contexts.

Try is used in informal contexts.

Usage:

Attempt is always followed by an object.

Try is not always followed by an object.

 Image Courtesy: Pixabay

Bạn đang xem bài viết Tri Thức, Quản Trị Tri Thức Và Kinh Tế Tri Thức trên website Sansangdethanhcong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!