Xem Nhiều 2/2023 #️ Trung Tâm Phát Triển Giáo Dục Cộng Đồng Nguồn Sáng # Top 11 Trend | Sansangdethanhcong.com

Xem Nhiều 2/2023 # Trung Tâm Phát Triển Giáo Dục Cộng Đồng Nguồn Sáng # Top 11 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Trung Tâm Phát Triển Giáo Dục Cộng Đồng Nguồn Sáng mới nhất trên website Sansangdethanhcong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Hỏi: Em đang làm một bài tập trắc nghiệm chọn từ đúng để điền vào câu, trong đó có câu hỏi sau:

We want to convey to the public that we are a caring company, not just ———- on profits.

A. decided

C. focused

B. determined

D. concentrated

Đáp án đúng là C, nhưng em thấy D cũng hoàn toàn đúng. Vậy phải chăng câu này sai vì có hai đáp án?

(Châu Ngọc, Đồng Nai)

Đáp: Đúng là concentrate và focus là hai từ đồng nghĩa và trong nhiều trường hợp có thể dùng thay cho nhau. Nhưng chúng vẫn có những điểm khác biệt về ý nghĩa và cách dùng.

Theo giải thích tại trang chúng tôi focus (danh từ hoặc động từ) có nghĩa là tập trung mối quan tâm (attention, interest) hay nguồn lực (resources) vào một việc hay một hành động nào đó.

Ngoài ra, focus còn có nghĩa là giới hạn phạm vi, tập trung vào một điểm nhấn nào đó. Cần lưu ý, danh từ focus còn có nghĩa là tiêu điểm.

Ngược lại, concentrate (động từ) hoặc concentration (danh từ) có nghĩa là tập trung tư tưởng, dòng suy nghĩ để tư duy về một vấn đề gì đó. Danh từ concentration còn có nghĩa là “tồn tại với mật độ cao, tập trung dày đặc”.

Trong câu mà em đưa ra chỉ có từ focus là phù hợp, vì ở đây chúng ta đang nói về một công ty, tức là nói đến việc tập trung nguồn lực hoặc mối quan tâm, chứ không thể là “tập trung tư tưởng, dòng suy nghĩ”, vốn chỉ dùng cho các cá nhân.

Chúng tôi muốn đưa đến công chúng thông điệp rằng chúng tôi là một công ty biết quan tâm [đến cộng đồng] chứ không chỉ chú trọng lợi nhuận.

Concentrate/ concentration Yoga can help you improve your concentration. Tập yoga có thể giúp bạn cải thiện khả năng tập trung tư tưởng.

You should concentrate on your lesson. Bạn cần chú tâm vào bài học. (Có thể dùng từ focus ở đây với nghĩa hơi khác; xem trong mục focus bên dưới).

This region has a large concentration of seabirds. Vùng này có tập trung nhiều loài chim biển.

Focus This research will focus on a number of issues. Nghiên cứu này sẽ tập trung/ giới hạn vào một số vấn đề.

The camera focused on the actor’s face. Máy ảnh tập trung vào khuôn mặt của diễn viên.

Their intense focus on customer requirements was much appreciated. Họ chú trọng hết sức đến yêu cầu của khách hàng, và điều này được đánh giá cao.

Nguồn: pediaa.com

TS. Vũ Thị Phương Anh

Trung Tâm Chăm Sóc Sức Khỏe Cộng Đồng – Chac

Khi nào khó thở là một dấu hiệu bệnh?

Bảng 1. Nguyên nhân khó thở

Khó thở lúc nghỉ ngơi

Khó thở lúc hoạt động hoặc thể dục

Khó thở khi nằm xuống

Khó thở khi phơi nhiễm chất dị ứng hoặc tác nhân kích thích

Khó thở đi kèm theo với –   Đau ngực hoặc tức ngực –   Đau nhức một hoặc cả hai tay, lan đến cằm hoặc cổ –   Sưng mắt cá và bàn chân –   Tăng cân do ứ dịch hoặc mất cân ngoài ý muốn cùng với chán ăn –   Mệt mỏi bất thường –   Đàm vàng, xanh hoặc dính, có máu –   Sốt –   Khò khè, tức là tiếng rít khi hít thở –   Ho dai dẵng, mạn tính –   Môi và đầu ngón tay ngón chân tím tái –   Ngất xỉu, chóng mặt –   Đầu ngón dùi trống

Điều gì gây ra khó thở?

Triệu chứng khó thở có thể do nhiều bất thường khác nhau trong các hệ cơ quan khác khau trong cơ thể (Hình).

Phổi

+ Các nhiễm trùng gần đây như viêm phế quản hoặc viêm phổi, hay là nhiễm trùng mạn tính như lao hoặc viêm phế quản mạn tính. Khó thở có thể đi kèm với đàm đổi màu hoặc sốt.

+ Hen, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính và khí phế thủng: Đường thở bị hẹp, tăng sức cản đối với không khí thở ra khỏi phổi, khiến không khí bị ứ trong phổi. Khó thở có thể đi kèm với khò khè. Ở bệnh nhân hen, thường có tiền sử dị ứng, trong khi ở bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính hoặc khí phế thủng, thường có tiền sử hút thuốc.

+ Ung thư phổi và các khối u khác: Khó thở thường đi kèm với chán ăn và mất cân ngoài ý muốn. Thường có tiền sử hút thuốc nặng và lâu dài.

+ Mô phổi tổn thương và hóa xơ do độc tố (như bệnh bụi phổi – asbestosis) hoặc do bệnh toàn thân (như viêm khớp dạng thấp). Thường có tiền sử bệnh toàn thân hoặc phơi nhiễm nghề nghiệp.

+ Cục máu đông trong tuần hoàn phổi (ngạnh tắc phổi): Khó thở thường đột ngột, đi kèm với thở nhanh và có thể kèm thêm đau ngực. Người bị cục máu đông ở chân hoặc ở vùng chậu (ngạnh tắc tĩnh mạch sâu), bệnh tình suy kiệt, bất động hoặc có xu hướng di truyền tạo cục máu đông dễ rơi vào tình trạng này.

+ Bệnh màng phổi: Nếu màng phổi dày lên, hóa sẹo, hoặc chứa dịch hay máu do nhiễm trùng (tràn dịch màng phổi), ung thư hoặc chất độc (bệnh bụi phổi), hoặc chứa khí (tràn khí màng phổi), màng phổi cản trở sự dãn nở của phổi, gây ra khó thở.

+ Bệnh cơ hoành hay thành ngực: Cơ hoành là cơ làm nở rộng phổi. Cơ hoành có thể bị liệt sau khi phẫu thuật ngực. Béo phì và biến dạng cột sống, biến dạng ngực cũng gây khó thở.

+ Rối loạn giấc ngủ: Ngưng thở lúc ngủ, thường biểu hiện bởi buồn ngủ vào ban ngày, ngáy to và có những lúc ngưng thở trong khi ngủ được người khác thấy được, có thể đi kèm với khó thở, thường xuất hiện sau khi tỉnh dậy đột ngột do ngưng thở.

Bệnh tim

+ Suy tim: Khó thở trong suy tim do khả năng tim nhận máu và đẩy máu bị suy giảm, khiến huyết áp trong các mạch máu chung quanh phổi tăng lên. Các triệu chứng thường gặp của suy tim gồm có khó thở khi nằm xuống (đây là một triệu chứng đặc hiệu của suy tim); phải kê nhiều gối trên đầu giường; thức giấc và khó thở trong đêm; ho về đêm hoặc khi nằm xuống; bị khó thở khi hoạt động; sưng mắt cá chân hoặc sưng chân; bị mệt mỏi bất thường khi hoạt động; và bị tăng cân do ứ dịch. Tổn thương cơ tim thường gây ra suy tim. Trong đa số các trường hợp, tổn thương cơ tim là do nhồi máu cơ tim (bệnh mạch vành tim) hoặc giảm lưu lượng máu đến cơ tim (thiếu máu). Trong một số trường hợp, tổn thương cơ tim là do hở hoặc hẹp các van tim (trong bệnh này, bác sĩ sẽ nghe tiếng thổi) hoặc suy yếu cơ tim do bệnh miễn dịch (thai kỳ hoặc bệnh tự miễn toàn thân như luput đỏ hệ thống), độc tố (như hóa trị, rượu, cocaine), nhiễm vi rút, các yếu tố di truyền. Trong một số trường hợp, cơ tim không phải suy yếu mà là cứng đờ, khiến việc nhận máu về tim bị tổn hại. Điều này thường do tăng huyết áp hoặc do cao tuổi.

Béo phì

Hầu hết bệnh nhân béo phì bị khó thở khi hoạt động. Các nguyên nhân bao gồm: ngực không thể dãn rộng hoàn toàn do trọng lượng quá dư đè lên thành ngực và các thay đổi trong việc kiểm soát hô hấp của não, khiến người ta khó hít sâu, thường gây ra ứ đọng khí carbonic và không đủ khí oxy trong máu (hội chứng kém thông khí béo phì). Hầu hết những bệnh nhân kém thông khí béo phì cũng bị ngưng thở lúc ngủ.

Mất thể hình

Nếu bạn không tích cực hoạt động hoặc không thể dục đều đặn, do xổ người và bị yếu cơ, bạn có thể phát sinh khó thở khi vận động thể chất vượt mức quen thuộc, như leo cầu thang.

Dị ứng

Dị ứng nặng (sốc phản vệ) có thể xảy ra ở những người dị ứng hoặc hen suyễn, thường gây ngứa, nổi mề đay, sưng mặt và môi, ban đỏ và khó thở. Sốc phản vệ là một phản ứng dị ứng có thể gây chết người, khởi phát nhanh và cần phải chăm sóc, điều trị ngay lập tức. Dị ứng mạn tính, mặt khác, có thể gây ra khó thở hoặc khò khè từng lúc (hen suyễn), mỗi khi người bệnh phơi nhiễm với dị nguyên.

Bệnh toàn thân

+ Thiếu máu, số lượng hồng cầu thấp: Do hồng cầu mang theo khí oxy, khi số lượng hồng cầu cực thấp, nhu cầu oxy của cơ thể không được đáp ứng, gây khó thở.

+ Tăng chuyển hóa, như cường giáp, sốc (huyết áp cực thấp), nhiễm trùng toàn thân nặng (nhiễm trùng huyết), hoặc sốt: Cơ thể cố gắng đáp ứng nhu cầu oxy cao bằng cách thở mạnh và nhanh.

+ Bệnh thận hoặc bệnh gan mạn tính: Do tăng dịch trong phổi, trong cơ thể và sự trao đổi oxy tại phổi bị tổn hại, bệnh nhân bị khó thở ở các giai đoạn cuối của cả hai tình trạng này.

Bệnh hệ thống thần kinh

+ Tăng áp suất trong não do chấn thương, bướu, đột quị hoặc chảy máu. Khi phần não điều hòa hô hấp bị ảnh hưởng, các tình trạng hiếm hoi này có thể gây khó thở. Các triệu chứng thần kinh khác thường xuất hiện trước khi khó thở.

+ Các rối loạn thần kinh và cơ, ảnh hưởng đến khả năng phối hợp và dãn rộng lồng ngực, ảnh hưởng đến vận động của cơ hoành có thể gây khó thở.

+ Lo âu: Lo âu đôi khi đi kèm với thở mạnh và nhanh (tăng thông khí). Khó thở thường biến mất khi giai đoạn lo âu chấm dứt.

Khó thở được đánh giá như thế nào?

Bác sĩ sẽ tiến hành khám thực thể toàn diện và có thể cần các xét nghiệm như đo nồng độ natriuretic peptide (thường tăng cao trong suy tim), công thức máu (để tìm thiếu máu), đo oxy hoặc nồng độ oxy trong máu hoặc khí carbonic trong máu. Bác sĩ cũng có thể cần X quang ngực. Nếu nghi ngờ bệnh tim, bạn có thể làm điện tâm đồ, siêu âm tim (hoặc MRI tim) để đánh giá chức năng co bóp của tim và các van, hoặc một thử nghiệm gắng sức để đánh giá sự tắc nghẽn của các mạch máu nuôi tim (động mạch vành). Nếu nghi ngờ bệnh phổi, bạn có thể làm thăm dò chức năng hô hấp (hô hấp ký). Thỉnh thoảng, thử nghiệm vận động (thử nghiệm vận động tim phổi) có thể được tiến hành trên một xe đạp để đo lường sự trao đổi khí ở phổi, thể hình và chức năng tim. Thử nghiệm bổ sung như CT và PET CT có thể cần trong một số trường hợp.

Khó thở được điều trị như thế nào?

Điều trị như thế nào tùy thuộc vào nguyên nhân (Bảng 2). Nếu bạn được chẩn đoán suy tim, bạn có thể được điều trị bằng các loại thuốc như lợi tiểu, thuốc ức chế men chuyển angiotensin, digoxin và thuốc chẹn beta. Nếu nguyên nhân là hen hoặc bệnh phổi mạn tính, bạn có thể được điều trị với oxy. Nếu nhiễm trùng, bạn có thể được kê toa một thuốc kháng sinh.

Bảng 2. Tôi có thể làm gì để tự chăm sóc

Bỏ thuốc lá. Ngưng hút thuốc sẽ giúp làm giảm một số các triệu chứng của bạn và làm giảm nguy cơ ung thư phổi.

Tránh phơi nhiễm với các dị nguyên, bụi, chất độc. Nếu bạn bị hen, tránh phơi nhiễm các dị nguyên gây ra khó thở.

Tránh quá cân và thể dục đều đặn. Luôn luôn tham vấn bác sĩ trước khi bắt đầu một chương trình giảm cân hoặc thể dục.

Nếu bạn bị suy tim, hãy sử dụng thuốc đều đặn, tránh ăn muối, và cân nặng mỗi ngày để theo dõi tình trạng ứ dịch.

Hãy học hỏi về bệnh tình của bạn. Nói chuyện với nhân viên y tế để học các phương pháp làm giảm nhẹ hoặc chấm dứt khó thở. Soạn một kế hoạch hành động dành cho lúc triệu chứng trở nặng.

Nguồn: American Heart Association http://circ.ahajournals.org/content/129/15/e447.full.pdf Trần Thanh Xuân dịch

Giáo Dục Vì Sự Phát Triển Bền Vững

Đã có nhiều thay đổi trong cách suy nghĩ của chúng ta về công tác kiểm tra đánh giá trong những năm gần đây. Trong đó có nhiều sự thay đổi phù hợp cho Giáo dục vì Sự Phát triển Bền vững.

Có lẽ thay đổi đáng chú ý nhất đó là sự tập trung vào mối quan hệ giữa quá trình học tập với sự đo lường và báo cáo kết quả học sinh đã đạt được gì. Mối quan hệ này đã giúp cho việc kiểm tra đánh giá trở thành một phần không thể tách rời của quá trình học tập hàng ngày của học sinh thay vì là một loạt các bài kiểm tra cuối một học kỳ, một khoá học.

Mô-đun này đề cập tới các cách đánh giá việc học tập của học sinh sao cho phù hợp với chương trình Giáo dục vì Sự Phát triển Bền vững.

Phát triển sự định hướng và sáng tạo trong việc kiểm tra đánh giá việc học tập trong Giáo dục vì Sự Phát triển Bền vững

Phát triển các kĩ năng sử dụng các phương pháp phù hợp để kiểm tra đánh giá kiến thức, kĩ năng, giá trị và mục tiêu của Giáo dục vì Phát triển Bền vững

HOẠT ĐỘNG

Lớp học của Yim-lin

Định nghĩa kiểm tra đánh giá (assessment) và đánh giá (evaluation)

Thay đổi quan điểm đối với việc kiểm tra đánh giá

Các phương pháp kiểm tra đánh giá

Các bài tập đưa ra quyết định

Tự kiểm tra đánh giá

Hoạt động tồng kết

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Black, P. et al. (2003) Assessment for Learning: Putting it into Practice, Open University Press.

Gardner, J.R. (ed) (2005) Assessment and Learning, Sage Publications.

Harlen, W. (2007) Assessment of Learning, Sage, London.

Harlen, W. (ed) (2008) Student Assessment and Testing (4 Volumes), Sage, London.

Harlen, W. (2003) Enhancing Inquiry through Formative Assessment, The Exploratorium, San Fransisco.

Hunt, G., Murdoch, K. and Walker, K. (1996) Assessment and evaluation: Profiling achievement in SOSE, in R. Gilbert (ed) Studying Society and Environment: A Handbook for Teachers, Macmillan, Melbourne.

Kellaghan, T. and Stufflebeam, D. (eds) (2003) International Handbook of Educational Assessment, Kluwer Academic Publishers, Dordrecht.

Lloyd-Jones, R. and Bray, E. (1986) Assessment: From Principles to Action, Macmillan, London.

McMillan, J. (ed) (2006) Formative Classroom Assesssment: Research, Theory and Practice, Teachers College Press, New York.

Spendlove, D. (2009) Putting Assessment for Learning into Practice (Ideas in Action), Continuum International Publishing Group.

Statterly, D. (1989) Assessment in Schools, Basil Blackwell, Oxford.

William, D. (2009) Assessment for Learning: Why, What and How? Institute of Education.

CÁC TRANG MẠNG

Assessment for Learning – UK

Assessment for Learning Guidance, Qualifications and Curriculum Development Agency, UK.

Assessment for Learning – Australia

Assessment Reform Group – Research on Assessment

XÂY DỰNG MÔ-ĐUN

Mô-đun này do Bernard Cox, Margaret Calder, Lisa Ryan. Clayton White và John Fien viết cho UNESCO, từ những tài liệu và các hoạt động được chuẩn bị bởi Philip Stimpson trong chương trình Học tập vì một Môi trường Bền vững (UNESCO-ACEID).

Hãy mở sổ tay học tập của bạn để bắt đầu hoạt động này.

Yim-Lin là một giáo viên ở Đặc khu Hành chính Hồng Kông của Trung Quốc. Hãy đọc đoạn miêu tả về lớp học trong ngày thứ hai của cô ấy.

Yim-lin bắt đầu một ngày bằng việc đọc một câu chuyện về cuộc sống bên cạnh một dòng sông. Cô hỏi các em học sinh vài câu hỏi để tìm hiểu liệu các em có thích thú với câu chuyện này hay không. Sau đó cô đưa ra thêm một số câu hỏi nhằm hướng các em suy nghĩ về con sông đó, tiến trình nó đổ ra biển, và những gì nó mang theo, từ các nhà thuyền nổi và các chợ.

Các em học sinh sau đó lấy sách bài tập toán ra. Tiếp đó, các em sẽ chép lại các từ luyện phát âm trên bảng vào vở chính tả. Các từ đó là: sông (river), châu thổ (delta), đồng bằng (plains), núi (mountains), đánh bắt (catch), lưu vực (catchment), việc đánh bắt (catching). Các em nhìn vào cách phát âm của các từ có âm “ai” và các từ được cấu trúc từ từ “catch”. Yim Lin dạy cho các em một từ mới, ‘phụ lưu sông’ (tributaries), và tách nó thành các âm tiết.

Yim-lin yêu cầu các em học sinh kiểm tra lại sơ đồ của mình và sửa lại cho đúng. Cô đi xung quanh để quan sát những gì các em vừa làm, và nói với cả lớp,”Tất cả các em đã chép sơ đồ rất tốt và dán nhãn sơ đồ rất rõ ràng. Cô rất vui và mong là các em cũng như vậy.”

Đến cuối ngày, Yim-lin nói với cả lớp khi các em học sinh đang thu xếp sách vở:” Đối với bài tập về nhà tối nay, các em hãy suy nghĩ tại sao các dòng sông lại quan trọng đối với chúng ta. Hãy liệt kê ra tất cả các lí do mà các em nghĩ tới.” Một học sinh tên là Mai-Ling đã nói với Yim-Lin khi cô ra khỏi lớp:”Em rất thích buổi học ngày hôm nay”

Khi trở về nhà, Yim-lin nghĩ về những gì cô đã dạy ở lớp. Điều mà cô hài lòng nhất là việc hầu hết học sinh đã hiểu được các khái niệm và các em rất hứng thú học. Cô tự hỏi là làm thế nào để cô có thể giúp Zellan và Nang-noi, bởi các em không có nhiều nhãn dán đúng trong sơ đồ. Cô tự hỏi tại sao Mai-ling lại yêu thích buổi học – có lẽ là phần xây dựng các mô hình đã giúp các em dễ hiểu hơn. Cô quyết định sẽ sớm thực hiện một hoạt động giảng dạy tương tự.

Câu hỏi 1: Hãy trả lời các câu hỏi về lớp học của Yim-lin:

· Nội dung nào đã được kiểm tra đánh giá trong lớp học của Yim-lin ngày hôm nay? Yim-lin đã kiểm tra đánh giá học sinh như thế nào?

· Bạn định nghĩa kiểm tra đánh giá là gì?

· Bạn biết những ví dụ hay nào về việc kiểm tra đánh giá?

· Bạn sẽ khuyên Yim-lin nên áp dụng những kỹ năng kiểm tra đánh giá nào?

· Có những phương pháp đánh giá nào đặc biệt hữu ích cho công tác Dạy và Học vì Một Tương lai Bền vững là gì?

QUAN ĐIỂM CỦA GIÁO VIÊN VỀ KIỂM TRA – ĐÁNH GIÁ

Kiểm tra đánh giá chủ yếu là việc lưu giữ và ghi chép về điểm số của sinh viên và những việc tương tự như thế.

Đó là việc chúng ta đưa ra các bài kiểm tra và bài thi nhằm tìm hiểu kiến thức của học sinh.

Đó là việc tìm hiểu xem học sinh có tăng hiểu biết về các khái niệm hay không.

Đó là thứ mà chúng ta sử dụng để kiểm tra sự tiến bộ của học sinh trong lớp

Kiểm tra đánh giá là việc tìm hiểu xem các bài giảng của chúng ta có đạt được hiệu quả hay không.

Đó là việc tìm ra điểm mạnh và điểm yếu của học sinh trong học tập, để xem các em cần giúp đỡ ở đâu

Đó là thứ mà chúng ta dùng để sắp xếp và phân loại học sinh.

Đó là việc được thực hiện bởi hội đồng thi cử và phòng giáo dục.

Kiểm tra đánh giá là sự kiểm tra học sinh có đánh vần chính xác, làm toán chính xác, và ghi chép chính xác từ bảng lớp hay không.

Câu hỏi 2: Trong số những quan điểm trên, bạn hãy chỉ ra ba quan điểm phù hợp nhất đến Giáo dục vì Sự Phát triển Bền vững. Hãy giải thích rõ lí do cho mỗi sự lựa chọn của bạn.

Hãy mở sổ tay học tập của bạn để bắt đầu hoạt động này.

ĐỊNH NGHĨA VỀ KIỂM TRA-ĐÁNH GIÁ

Yim-lin và các giáo viên tham dự hội thảo được yêu cầu phân tích ba đoạn trích dẫn và đưa ra một danh sách về những điểm khác nhau giữa hai khái niệm này.

Hãy hình dung rằng bạn cũng là một giáo viên tham dự tại hội thảo này.

Câu hỏi 3: Hãy đọc ba đoạn trích dẫn sau đây và xác định điểm khác biệt chính giữa kiểm tra đánh giá và đánh giá.

Nguồn: Phỏng theo Lloyd-Jones, R. and Bray, E. (1986) Kiểm tra đánh giá: Từ Nguyên tắc đến Hành động, Macmillan, London (Lloyd-Jones, R. and Bray, E. ,1986, Assessment: From Principles to Action, Macmillan, London.)

Nguồn: Phỏng theo Statterly, D. (1989) Kiểm tra đánh giá trong Trường học, Basil Blackwell,oxford (Statterly, D., 1989 Assessment in Schools, Basil Blackwell,Oxford)

Kiểm tra đánh giá là một quá trình giúp giáo viên hiểu được các mức độ kết quả và chất lượng học tập, và từ quá trình này tạo ra các dữ liệu cơ bản mà dựa trên đó giáo viên báo cáo về kết quả và chất lượng của học sinh cho phụ huynh và xã hội. Do vậy, nó phải đáng tin cậy và hợp lý.

Đánh giá được thực hiện nhằm một mục đích khác. Mục đích của đánh giá là cải thiện chương trình giảng dạy và phương pháp sư phạm. Đánh giá là một quá trình. Kiểm tra đánh giá và đánh giá là các bộ phận không thể tách rời của quá trình giáo dục cũng như mọi khía cạnh của việc dạy và học nhằm tạo cơ hội cho cả hai.

Nguồn: Phỏng theo Hunt, G., Murdoch, K. and Walker, K., 1996, Kiểm tra đánh giá và Đánh giá: Tổng hợp những kết quả của SOSE, trong R. Gilbert (biên tập) Nghiên cứu Xã hội và Môi trường: Cẩm nag cho Giáo viên, Macmillan, Melbourne.(Hunt, G., Murdoch, K. and Walker, K.,1996, Assessment and evaluation: Profiling achievement in SOSE, in R. Gilbert (ed) Studying Society and Environment: A Handbook for Teachers)

Hãy mở sổ tay học tập của bạn để bắt đầu hoạt động này.

Kiểm tra đánh giá …

là quá trình theo dõi thành tích học tập của học sinh nhằm mục đích phát hiện các điểm mạnh và điểm yếu trong học tập, thông báo cho phụ huynh, và cung cấp giấy chứng nhận thành tích cho cán bộ và các tổ chức giáo dục khác.

là quá trình theo dõi với phạm vi rộng hơn mọi khía cạnh của quá trình học tập (bao gồm xem xét sự phù hợp của mục tiêu và nội dung, nguồn tài liệu và các phương pháp giảng dạy; chất lượng của môi trường học tập v.v…) nhằm mục đích đưa ra những đánh giá và đề xuất về các cách cải thiện quá trình học tập.

LÝ DO CỦA VIỆC KIỂM TRA-ĐÁNH GIÁ QUÁ TRÌNH HỌC TẬP CỦA HỌC SINH

Các giáo viên tham gia hội thảo sau đó đã được yêu cầu so sánh hai quan điểm về kiểm tra đánh giá để xác định quan điểm mà họ cho là phù hợp nhất với Giáo dục vì sự Phát triển Bền vững.

Quan điểm 1

Giáo viên chúng tôi thường nói rằng việc kiểm tra các em là nhằm xem các em đã học được những gì, để từ đó chúng ta nắm bắt được tình hình và tìm cách để giúp các em học tập tốt hơn. 95% điều này không đúng. Có hai lý do chính tại sao chúng tôi kiểm tra trẻ em: đầu tiên là để dọa nạt nhằm bắt các em làm những gì mà ta muốn được hoàn thành, và thứ hai là để cung cấp cho ta cơ sở để khen thưởng và xử phạt, một việc mà hệ thống giáo dục – cũng giống như tất cả các hệ thống cưỡng chế khác- phải làm.

Nguồn: Holt, J (1969) How Children Fail, Penguin, Harmondsworth, pp. 51-52.

Quan điểm 2

Kiểm tra đánh giá nên đóng một phần quan trọng trong bất kỳ quá trình sư phạm nào. Ở bất kỳ khi nào mà việc học tập đang hoặc dự định sắp diễn ra, thì cũng là điều hợp lý khi người học, giáo viên cũng như các bên quan tâm khác tò mò sẽ có điều gì xảy ra trên phương diện về quá trình học tập và về những kết quả mong đợi và kết quả ngoài dự tính. Chúng ta có thể lập luận rằng hiển nhiên một nền giáo dục tốt phải bao gồm sự kiểm tra đánh giá tốt. Tuy nhiên, chúng tôi muốn tách mình ngay lập tức ra khỏi những gì khoác cái vỏ “kiểm tra đánh giá giáo dục tốt”. Kiểm tra đánh giá đã được nhìn nhận quá lâu như một quá trình chính qui trong đó thường bao gồm việc tiến hành các bài kiểm tra và các kì thi chính thức thông qua những thủ tục hoàn toàn xa rời với quá trình giáo dục và môi trường sư phạm, những yếu tố mà đáng lẽ ra phải có sự liên hệ mật thiết với kiểm tra đánh giá.

Nguồn: Murphy and Torrance,1988, The Changing Face of Educational Assessment, Milton Keynes, Open University Press, p. 7.

Câu hỏi 4: Hãy trả lời các câu hỏi sau về hai đoạn trích dẫn trên:

Điểm chính trong quan điểm 1 là gì?

Theo bạn, cơ sở lí luận đằng sau quan điểm này là gì?

Những điểm chính trong quan điểm 2 là gì? Những điểm này khác với quan điểm 1 như thế nào?

Cơ sở lí luận đằng sau quan điểm 2 là gì?

Quan điểm 2 là quan điểm mới mẻ hơn so với quan điểm 1. Những thay đổi gì trong tư duy giáo dục có thể giải thích cho sự thay đổi quan điểm về kiểm tra đánh giá nói trên?

KIỂM TRA-ĐÁNH GIÁ VÀ QUÁ TRÌNH HỌC TẬP CỦA HỌC SINH

Các giáo viên tại hội thảo của Yim-lin sau đó đã phác thảo các ý nghĩa mà kiểm tra đánh giá có thể đóng góp cho quá trình học tập của học sinh. Trong số các lý do mà họ nêu ra, có các lí do sau đây:

Để tìm hiểu xem học sinh biết gì, hiểu gì và có thể làm gì

Để tìm hiểu xem học sinh không biết gì, không hiểu gì và không thể làm gì

Để tạo ra cơ sở cho việc đưa ra ý kiến phản hồi tới người học nhằm giúp học sinh trong việc phát triển các kĩ năng và sự hiểu biết.

Để khuyến khích người học học được các giá trị và các khái niệm cụ thể, hoặc phát triển các kỹ năng cụ thể.

Để đánh giá mức độ phù hợp của các tài liệu sử dụng trong chương trình giảng dạy

Để xem xét liệu có hoàn thành các mục tiêu học tập hay không.

Người hướng dẫn của hội thảo sau đó giải thích rằng hai quan điểm trên đại diện cho hai hình thức kiểm tra đánh giá:

1. Kiểm tra đánh giá thường xuyên (Formative-Assessment):

Kiểm tra đánh giá thường xuyên (hay còn gọi là kiểm tra đánh giá hình thành) là hình thức kiểm tra đánh giá diễn ra liên tục gắn liền với quá trình học tập. Hình thức đánh giá này có tính chất là phi chính qui và được sử dụng để giúp học sinh xác định các điểm mạnh và điểm yếu với mục đích học hỏi và hoàn thiện từ quá trình đánh giá.

2. Kiểm tra đánh giá tổng kết (Summative Assessment)

Câu chuyện 1: Hình thức kiểm tra đánh giá thường xuyên

Câu chuyện 2: Hình thức kiểm tra đánh giá tổng kết

Câu hỏi 5: Hãy sử dụng các định nghĩa và hai câu chuyện của Yim-lin, so sánh giữa hai hình thức kiểm tra đánh giá thường xuyên và đánh giá tổng kết:

ĐỊNH NGHĨA VỀ CÁC THUẬT NGỮ ĐÁNH GIÁ

· Kiểm tra đánh giá thường xuyên và kiểm tra đánh giá tổng kết (Formative and summative assessment)

· Đánh giá chính qui và không chính qui (Informal and formal assessment)

· Kiểm tra đánh giá liên tục và kiểm tra đánh giá theo giai đoạn (Continuous and terminal assessment)

Hãy mở sổ tay học tập của bạn để bắt đầu hoạt động này.

Người hướng dẫn hội thảo giải thích cho Yim-lin và đồng nghiệp của cô rằng có rất nhiều phương pháp kiểm tra đánh giá khác nhau, bao gồm:

Các bài kiểm tra trắc nghiệm (Multiple choice tests)

Diễn giải bản đồ hoặc biểu đồ (Map or diagram interpretation)

Các bài kiểm tra từ vựng (Vocabulary tests)

Tranh luận/hùng biện (debate performance)

Các bài kiểm tra đúng-sai (True-false tests)

Các bài giảng nhỏ (Lecturette)

Dán nhãn vào sơ đồ (Labels-on-a-diagram tests)

Bài luận có cấu trúc (Structured essays)

Bài kiểm tra đọc hiểu (Comprehension tests)

Bài luận không hướng dẫn (Unguided essay)

Bài kiểm tra trả lời ngắn (trả lời bằng đoạn văn) (Short answer tests (paragraph answers)

Báo cáo thực địa (Field trip report)

Bài tập đưa ra quyết định (Decision making exercises)

Bài luận nghiên cứu (Library research essay)

Các nhóm sau đó đã xác định năm loại mục tiêu sau:

Kiến thức (knowledge): Những gì mà một người biết.

Kỹ năng (skills): Khả năng làm điều gì đó, đặc biệt là kỹ năng thực hành hoặc chân tay.

Quá trình tư duy (thinking processes): các cách thức tư duy bậc cao, chẳng hạn như việc áp dụng, phân tích, tổng hợp và đánh giá.

Giá trị (values): Các tiêu chuẩn và nguyên tắc có thể được áp dụng để xem xét giá trị của một ý tưởng hoặc hành động.

Hành động (actions): Những gì mọi người làm như là kết quả của việc học tập.

GẮN CÁC MỤC TIÊU VỚI CÁC PHƯƠNG PHÁP KIỂM TRA-ĐÁNH GIÁ

Hoạt động tiếp theo tại hội thảo là gắn các mục tiêu này với những phương pháp kiểm tra đánh giá phù hợp.

Câu hỏi 6: Hãy gắn các phương pháp đánh giá phù hợp với các mục tiêu giáo dục khác nhau.

Hãy xem các câu trả lời của Yim-lin và các đồng nghiệp.

CÁC PHƯƠNG PHÁP VÀ CÔNG CỤ ĐÁNH GIÁ ĐỔI MỚI

Các bài tập đưa ra quyết đinh (decision-making exercises), và

Phương pháp tự kiểm tra đánh giá (self-assessment).

Những phương pháp này được minh họa trong Hoạt động 5 và Hoạt động 6.

Hãy mở sổ tay học tập của bạn để bắt đầu hoạt động này.

Khi được yêu cầu giải thích bản chất và mục đích của việc kiểm tra đánh giá quá trình học tập của học sinh khi sử dụng một bài tập đưa ra quyết định, người hướng dẫn hội thảo giải thích rằng thông thường các phương pháp đánh giá truyền thống không hiệu quả lắm trong việc đánh giá các kỹ năng tư duy và quá trình phân tích các quan điểm và giá trị.

Các bài tập đưa ra quyết định là một cách rất hữu ích để giải quyết vấn đề này. Đây là những bài tập giải quyết vấn đề có cấu trúc nhằm đưa ra cho sinh viên một loạt các nhiệm vụ cần thực hiện:

Ví dụ được trình bày tại hội thảo là một bài tập đưa ra quyết định được chuẩn bị cho một tiết học của lớp 11 về ‘ Ô nhiễm không khí ở Hồng Kông’.

Ý thức được vấn đề về mức độ nghiêm trọng của ô nhiễm không khí, nguyên nhân và hậu quả.

Hiểu được các quan điểm khác nhau đối với vấn đề nói trên và lý do tại sao lại có những sự khác biệt này.

Mô tả và đánh giá mức độ hiệu quả của các giải pháp giải quyết vấn đề ô nhiễm không khí tại địa phương.

Bài tập đưa ra quyết định này được xây dựng dựa trên một loạt các nguồn tài liệu đã chuẩn bị sẵn, bao gồm các bản tin trên báo chí, các số liệu thống kê về ô nhiễm không khí ở Hồng Kông, những ảnh hưởng của nó đến sức khoẻ và các giải pháp cho vấn đề ô nhiễm không khí. Những tài liệu này được cung cấp làm tư liệu đọc cho bài tập này.

Hãy đọc bài tập đưa ra quyết định.

[Lưu ý: Không cần thiết phải đọc tất cả các tài liệu một cách chi tiết.]

Câu hỏi 7: Hãy phân tích ý nghĩa của bài tập đưa ra quyết định này trong vai trò là một hình thức kiểm tra đánh giá:

Hãy xác định các quá trình tư duy (ví dụ như áp dụng, phân tích, tổng hợp, hoặc đánh giá) cần được kiểm tra đánh giá song song với việc các em học sinh trải qua các bước trong bài tập đưa ra quyết định.

Xác định các kĩ năng nhận thức giá trị (valuing process) mà học sinh sẽ thu nhận được hoặc củng cố như là một kết quả của việc hoàn thành bài tập đưa ra quyết định.

Bạn có thể thay đổi bài tập trên như thế nào để phù hợp với một lớp học của bạn?

Hãy mở sổ tay học tập của bạn để bắt đầu hoạt động này.

Phương pháp kiểm tra đánh giá đổi mới thứ hai được xem xét tại Hội thảo của Yim-lin là phương pháp tự kiểm tra đánh giá.

Tự kiểm tra đánh giá là một kỹ năng quan trọng đối với học sinh – và là một chỉ số rất tốt của việc học tập chất lượng cao.

Người hướng dẫn của hội thảo đưa ra hai ví dụ về Bảng mẫu Tự Đánh giá của Học sinh. Các mẫu này được chuẩn bị để áp dụng sau khi kết thúc một bài tập về rừng mưa nhiệt đới của học sinh.

Báo cáo tự đánh giá ‘Tôi có thể làm’ (I Can Do Self-Assessment Report)

Báo cáo tự đánh giá có sự trao đổi. (Negotiated Self-Assessment Report)

Câu hỏi 8: Sau khi xem xét hai mẫu tự đánh giá trên, bạn hãy trả lời những câu hỏi sau:

Bạn sẽ sử dụng mẫu nào cho lớp học của mình? Tại sao?

Bạn có thể chỉnh sửa như thế nào đối với mẫu còn lại (hoặc cả hai mẫu) để nó trở nên phù hợp hơn với lớp học của bạn?

Bạn có thể sử dụng những thông tin thu được từ kết quả tự đánh giá của học sinh để làm gì?

Hãy mở sổ tay học tập của bạn để bắt đầu hoạt động này.

Hoạt động tổng kết mô-đun: Hãy nhìn lại các hoạt động và bài tập của mô-đun để kiểm tra xem bạn đã làm xong chưa. Bổ sung và hoàn tất các phần để kết thúc mô-đun.

Câu hỏi 9: Hãy xác định ba lợi ích mà bạn nghĩ Yim-lin sẽ thu được từ hội thảo về việc kiểm tra đánh giá.

Câu hỏi 11: Các ý tưởng được nêu ra trong mô-đun này ảnh hưởng hoặc thay đổi phương pháp kiểm tra đánh giá bạn đang dùng hiện nay như thế nào?

Bài tập Kiểm tra đánh giá

Bài tập đưa ra quyết định này đặt dưới hình thức của một cuộc điều tra về môi trường. Bài tập này tập trung xoay quanh các quan điểm tranh luận của một số người tại Đặc khu Hành chính Hồng Kong cho rằng, là một thành phố công nghiệp, ô nhiễm không khí là một chi phí phát sinh không thể tránh khỏi nếu người dân muốn duy trì mức sống cao. Những người khác cho rằng vấn đề ô nhiễm không khí hiện đang nghiêm trọng đến mức nó đang đe dọa tới sức khỏe và chất lượng cuộc sống của những cư dân trong thành phố.

Bài tập này bao gồm 4 nhiệm vụ:

Nhiệm vụ 1: Phân tích những bản tin để xác định những quan điểm khác nhau về vấn đề ô nhiễm không khí.

Nhiệm vụ 2: Phân tích các dữ liệu thống kê và tư liệu văn bản nhằm tìm hiểu hiện trạng ô nhiễm không khí.

Nhiệm vụ 3: Sử dụng phương pháp đóng vai để xác định các giải pháp khả thi.

Nhiệm vụ 4: Tổng hợp các ý kiến về vấn đề ô nhiễm không khí và các giải pháp khả thi.

Nhiệm vụ 1: Xác định vấn đề

1.1 Hãy đọc hai bài phóng sự trên báo về sự ô nhiễm đô thị ở Hồng Kông – Nguồn 1 và nguồn 2.

1.2 Sau đó trả lời các câu hỏi sau đây:

· Hai nhóm quan điểm khái quát về ô nhiễm không khí được đề cập là gì?

· Hãy xác định các giá trị sống khác nhau của những người có quan điểm trái ngược?

Nhiệm vụ 2: Phân tích vấn đề

2.1 Hãy phân tích những tài liệu ở từ nguồn 3 đến nguồn 6 để xem những nhóm dân cư khác nhau ở Hồng Kong hiểu như thế nào là “ô nhiễm không khí”; những ảnh hưởng của nó; và các giải pháp khả thi được nêu ra.

2.2 Hãy trả lời các câu hỏi sau đây.

· Ô nhiễm không khí là gì?

· Nguồn phát thải các chất gây ô nhiễm không khí là những nguồn nào?

· Ô nhiễm không khí ảnh hưởng đến cuộc sống của con người như thế nào?

· Ô nhiễm không khí ảnh hưởng đến khí hậu như thế nào?

· Những giải pháp nào đã được đề xuất nhằm giải quyết vấn đề ô nhiễm không khí?

· Những giải pháp này có khả thi hay không? Cho ý kiến về ưu và nhược điểm của những giải pháp đó.

Nhiệm vụ 3: Xác định các giải pháp

· Một cán bộ đến từ Cục Bảo vệ Môi trường

· Một đại diện đến từ ngành công nghiệp

· Một người mẹ đang lo lắng đến vấn đề.

· Một đại diện của tổ chức ‘Những người bạn của hành tinh’ (Friends of the Planet)

· Một chủ taxi

· Một bác sĩ

3.2 Hãy tóm tắt lại (i) từng quan điểm mà bạn cho rằng mỗi bên sẽ đưa ra, và (ii) ý kiến của từng bên về những quan điểm của các bên còn lại.

Nhiệm vụ 4: Tổng hợp

4.1 Bằng cách viết một bài luận ngắn, bạn hãy diễn tả những hiểu biết của mình về đề tài này theo các câu hỏi sau:

V ấn đề ô nhiễm không khí ở Hồng Kông ngày nay tồi tệ hơn 25 năm trước ở những khía cạnh nào? Giải thích tại sao tình hình hiện nay lại nảy sinh, và những giải pháp khả thi nào được các nhóm nhìn nhận. .

Bạn đề xuất chiến lược hành động nào? Tại sao?

Bài luận của bạn sẽ được chấm dự trên những tiêu chí sau:

· Mức độ am hiểu khái niệm.

· Bố cục/cấu trúc.

· Cách sử dụng các minh họa và ví dụ

· Mức độ thuyết phục của các luận cứ được sử dụng nhằm hỗ trợ cho đề xuất của bạn.

· Các kĩ năng truyền đạt bằng văn bản.

Đề giải quyết các vấn đề ô nhiễm không khí, phát sinh chủ yếu do các hoạt động giao thông, những cư dân Hồng Kông sẽ phải trả nhiều tiền hơn cho việc mua xe hoặc bảo trì, bảo dưỡng xe.

Các loại xe chạy bằng động cơ diesel là những tác nhân gây ra ảnh hưởng nghiêm trọng nhất. Chúng chiếm hơn 80% lượng phát thải từ giao thông. Tuy nhiên, Chính phủ đã rút lui khỏi việc thực hiện kế hoạch thay thế chúng bằng những loại xe sử dụng động cơ xăng do lo ngai kế hoạch này sẽ gây ra lạm phát.

Giải pháp thay thế được đưa ra nhằm đảm bảo rằng những người sử dụng xe diesel sẽ phải bảo dưỡng động cơ, và làm giảm ô nhiễm.

Các phương tiện giao thông phải được kiểm định ít nhất hai lần một năm, và tốt nhất là 3 hoặc 4 lần.

Việc thực hiện các quy định kiểm định này sẽ cần thêm nhiều nhân lực. Và các quy định này không ngăn được việc thay thế động cơ, cách mà một số tài xế taxi và xe buýt sử dụng do sự nhầm lẫn rằng sự thay thế này sẽ làm cho động cơ khoẻ hơn.

Tiến sĩ Liu trao đổi: “Đó là một đề xuất có mức rủi ro cao hơn nhưng chi phí lại thấp hơn. Nhưng liệu chúng ta có thể thực thi luật kiểm định và tiến hành kiểm định một cách đủ thường xuyên hay không?”.

Bằng cách dựa vào các loại xe động cơ xăng có bộ phận chuyển đổi xúc tác để kiểm soát lượng phát thải các chất ô nhiễm, sẽ không làm phát sinh thêm nhu cầu về nhân lực và các tài xế sẽ không thể can thiệp vào động cơ.

Nghiên cứu chỉ ra rằng chất ô nhiễm chủ đạo duy nhất của các xe ô tô có bộ phận chuyển đổi xúc tác là cácbon điôxít.

Chi phí lắp đặt bộ phận chyển đổi là $5.000 và chi phí cho nhiên liệu cao hơn từ 10 đến 20%.

Chi phí một năm cho việc kiểm định động cơ diesel là $500, cộng thêm chi phí mà chủ xe phải chịu vì xe không được vận hành trong thời gian kiểm định. Mặc dù vậy, các phương tiện sử dụng động cơ diesel vẫn phát thải ra khí ôxit nitơ, các chất lơ lửng hấp thụ và cácbon điôxít.

Kết quả của các cuộc thăm dò cho thấy vấn đề ô nhiễm không khí là mối quan tâm chính về môi trường của người dân Hồng Kông.

Tiến sĩ Liu nói: “Nếu lo ngại về lạm phát quan trọng hơn hết thảy các mối quan tâm và chừng nào nào việc kiểm soát lạm phát vẫn là chính sách chủ đạo thì chúng ta sẽ không thể nào tiến xa được. Bảo vệ môi trường hiếm khi là miễn phí”.

“Ô nhiễm không khí có ảnh hưởng trực tiếp nhiều nhất đến con người – họ hít thở chúng vào phổi và với một chi phí vừa phải, chúng ta có thể giải quyết được điều gì đó.”

Đó là ý kiến phát biểu của Tiến sĩ Liu tại hội thảo “Ô nhiễm trong môi trường đô thị” ở Hồng Kông. Chủ đề là sự ấm lên toàn cầu, vấn đề mà ngành vận tải đóng góp một phần rất lớn bởi lượng khí thải carbon dioxit và các loại phát thải khác.

Nồng độ các khí nhà kính trong khí quyển đang tăng lên hàng năm, theo đánh giá của Rosalyn Brown – Văn phòng Đánh giá Công nghệ của Quốc hội Hoa Kỳ.

Bà cho biết lượng khí cacbon điôxít mỗi năm tăng 0,5%, chlorofluoro-cacbon 4%, mêtan 1% và nitơ ôxit là 0.25%. Cácbon điôxít, được thải ra chủ yếu từ các phương tiện giao thông đường bộ, chiếm khoảng trên 50% tổng lượng khí thải loại này.

Các diễn giả khác cũng ca ngợi hệ thống giao thông công cộng ở Hồng Kông, vì ở các nước khác các phương tiện giao thông cá nhân là một trong những nguồn phát thải đáng kể gây ô nhiễm không khí.

Tuy nhiên, cố vấn người Nhật Bản Osamu Harako cho biết rằng Nhật Bản cũng đã từng phải đối mặt với những vấn đề ô nhiễm không khí tương tự như các nước châu Á khác do việc sử dụng động cơ diesel, vốn chiếm tới 65% phương tiện đi lại tính theo kilomét đường bộ.

Các chuyên gia cảnh báo về nguy cơ ung thư gây ra do xăng không chì

Xăng không chì – đặc biệt là loại xăng mới gây tranh cãi Octan 98 – có thể chứa các chất gây ung thư ở mức nguy hiểm, một chuyên gia hàng đầu về ô nhiễm không khí cho biết.

Các hóa chất này là những dẫn xuất của benzen, được thêm vào nhiên liệu không chì để làm cho nó mạnh hơn, tuy nhiên đây cũng là các chất có thể gây bệnh ung thư.

Xăng octan 98, gần đây mới được đưa vào sử dụng tại Hồng Kông bất chấp các tranh cãi sôi nổi, có chứa lượng các hóa chất (phụ gia chống kích nổ) nhiều hơn so với loại xăng octan 95 mà được thay thế, theo nhà độc học Liang Tan

Bà Tan cho biết quá trình đốt cháy các loại xăng không chì thải ra các hợp chất hữu cơ đa vòng thơm (PAHs), những chất tác nhân gây ung thư đã được biết đến.

“Để ngăn chặn sự kích nổ sớm của hỗn hợp xăng trong chu trình nén của động cơ, bạn cần chỉ số octane cao … các chất hydrocarbon thơm có thêm trong các loại xăng không chì (dùng làm tăng chỉ số octan) sẽ làm tăng lượng các chất gây ung thư “, bà nói.

Các công ty dầu mỏ giải thích rằng việc đưa vào sử dụng loại xăng octane 98 là để đã đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Giá của loại xăng này cao hơn 21 cent/lít so với xăng octan 95.

“Nếu bạn sử dụng loại xăng không chì có chỉ số octane cao, có nhiều các hợp chất vòng hơn và tất yếu là sẽ có nhiều các hợp chất PAHs được thải ra hơn”, bà Tân nói.

Tuy nhiên, ông Peter Wong từ Cục Bảo vệ Môi trường cho biết ông không “quá lo lắng” về vấn đề PAHs bởi vì mức độ của các chất này tại Hồng Kông dường như không cao.

PAHs rất khó đo đạc nhưng việc đo đạc hàm lượng benzene sinh ra trong không khí, chất có mối liên hệ với các hợp chất PAHs, cho thấy tỷ lệ chất này vào khoảng một phần mười so với tiêu chuẩn của Mỹ.

Ông Wong cũng cho biết các công ty dầu mỏ đã cam kết sẽ giữ hàm lượng benzen trong xăng theo tiêu chuẩn của Anh, tối đa là 5%.

Cam kết này được đưa ra vào đầu năm nay trước khi xăng không chì được đưa vào tiêu dùng vào ngày mùng 1 tháng Tư, và lúc đó chỉ áp dụng cho xăng octan 95.

Vào đầu năm nay, Uỷ ban Tiêu dùng đã có chủ trương áp đặt các biện pháp kiểm soát hàm lượng benzen.

Bà Tan cho biết thêm rằng còn cần phải thực hiện rất nhiều nghiên cứu về ảnh hưởng của xăng không chì.

Bà cho rằng việc lắp đặt bộ phận chuyển đổi xúc tác cho xe sử dụng xăng không chì giúp giảm thiểu vấn đề ô nhiễm vì hầu hết các chất gây ô nhiễm được thải ra đều bị phân hủy.

Ô nhiễm không khí ở Hồng Kông

Theo số liệu quan trắc của Cục Bảo vệ Môi trường Hồng Kông, năm 1989, lượng cácbon mônôxít vẫn trong giới hạn an toàn. Tuy nhiên, lưu huỳnh điôxít lại là một vấn đề, đặc biệt là ở khu công nghiệp Kwai Chung. Nitơ điôxít là một vấn đề phổ biến hơn so với lưu huỳnh điôxít và chiếm tỷ lệ cao nhất ở Kwun Tong và phía Tây – cũng là nơi tập trung các khu công nghiệp.

Lượng bụi lơ lửng tổng số (TSP) và bụi lơ lửng hấp thụ (RSP) trung bình đã liên tục vượt quá mức cho phép đến hơn 50%. Vấn đề ô nhiễm bụi và các hạt (Particulate), đang ngày càng trở nên tồi tệ hơn. Ngoài ra còn có các mối lo ngại về những chất gây ô nhiễm không khí độc hại như polyclorinated biphenyl (PCSs), benzol-a-pyrene (BaP), các kim loại nặng độc hại (thủy ngân, asen, berili, crom và cadmium) và các hợp chất hữu cơ dễ bay hơi (VOCs). PCBs phần lớn bắt nguồn từ sự cố rò rỉ dầu máy biến thế và chất hóa dẻo nhưng, cũng như đối với các kim loại, hàm lượng các chất này vẫn đang nằm trong giới hạn chấp nhận được. Tuy nhiên, các chất BaPs sinh ra từ việc đốt dầu và than đá và cũng là một mối quan tâm.

Các tiêu chuẩn về ô nhiễm không khí

(i) Đo tại 298 ° K (25 ° C) và 101,325 kPa (một khí quyển).

(ii) Không được vượt quá ba lần mỗi năm.

(iii) Không được vượt quá một lần mỗi năm.

(iv) Có ý nghĩa số học.

(v) Bụi lơ lửng hấp thụ (RSP) là các hạt nhỏ lơ lửng trong không khí có đường kính khí động học nhỏ hơn hoặc bằng 10 μm

(vi) Chất ôxy quang hóa là những chất được xác định thông qua việc đo nồng độ ôzôn.

Nồng độ hàng ngày (μg / m³) của lưu huỳnh điôxít và bụi lơ lửng tổng số một số thành phố tiêu biểu năm 1984.

Thành phố

SO

TSP

Thẩm Dương (Trung Quốc)

219 (844)

502 (1352)

Chicago (Mỹ)

23 (84)

86 (199)

Những ảnh hưởng của các dạng ô nhiễm không khí khác nhau

* Các hạt có đường kính 0,1 và 25 μm, (1 μm = 1 / 100, 000 cm).

** Lưu huỳnh điôxít có thể chiếm đến 80% lượng bụi lơ lửng

Một cán bộ của Cục Bảo vệ môi trường

Mối quan tâm của bạn là việc bảo vệ môi trường.

Bạn có những quy định và điều khoản nghiêm ngặt để kiểm soát việc ô nhiễm không khí, ví dụ:

· một mạng lưới các trạm quan trắc dùng để đo chất lượng không khí đã được thiết lập trên toàn lãnh thổ;

· xăng không chì đã được bán trên thị trường từ tháng 4 năm 1991

· toàn bộ khu vực Hồng Kông đã được xác định là Khu Kiểm soát Không khí (Air Control Zone) kể từ tháng 12 năm 1989;

· Những phương tiện thải nhiều khói được kiểm tra tại Trung tâm Kiểm tra Khí thải Xe;

· Những Quy định Kiểm soát Không khí (Khói) Ô nhiễm được sửa đổi vào năm 1990 thắt chặt quyền kiểm soát việc thải khói đen từ các nguồn đốt cố định;

· Quy định Hạn chế Nhiên liệu (ngày mùng 1 tháng 7 năm 1990) đã nghiêm cấm việc sử dụng nhiên liệu xăng dầu có hàm lượng lưu huỳnh cao.

Một đại diện của ngành công nghiệp

Mối quan tâm của bạn đó là khả năng tạo ra lợi nhuận và giảm chi phí phát sinh đến hết mức có thể. Tuy nhiên, bạn cũng muốn có một hình ảnh tốt trước công chúng.

Bạn cho rằng không có bằng chứng rõ ràng nào cho thấy công nghiệp là ngành duy nhất phải chịu trách nhiệm về việc phát thải ra các chất gây ô nhiễm không khí. Nếu các quy định quá nghiêm ngặt được áp dụng, sức cạnh tranh của các sản phẩm của Hồng Kông sẽ suy giảm do chi phí sản xuất tăng lên. Nền kinh tế của Hồng Kông sẽ bị ảnh hưởng.

Một người mẹ đang lo lắng đến vấn đề

Mối quan tâm chính của bạn là chất lượng cuộc sống hàng ngày.

Bạn không có những kiến thức chuyên sâu về ô nhiễm không khí. Những gì bạn chú ý là sự phai màu lớp sơn của ngôi nhà, đồ nội thất luôn bị phủ bụi mặc dù bạn lau chùi thường xuyên, và mọi người trong gia đình rất hay bị các bệnh về đường hô hấp.

Bạn thích sự tiện lợi của cuộc sống hiện đại ở Hồng Kông và lo lắng về những điều làm cho cuộc sống trở nên đắt đỏ hơn.

Một đại diện đến từ tổ chức ‘Những người bạn của hành tinh’ (Friends of the Planet)

Mối quan tâm của bạn là giúp mọi người có ý thức hơn về môi trường và gây sức ép để chính phủ đưa ra các quy định khắt khe hơn, ví dụ như:

Bắt buộc ngành công nghiệp và người điều khiển phương tiện phải sử dụng xăng không chì và sử dụng xăng dầu có hàm lượng lưu huỳnh thấp;

Áp đặt các quy định khắt khe hơn về khói thải của xe nhằm duy trì chúng trong giới hạn chấp nhận được.

Bạn cho rằng có một số phương pháp để cải thiện chất lượng môi trường không khí, ví dụ:

giáo dục cộng đồng và các tổ chức ngành nghề kinh doanh

giảm số lượng ô tô vận hành trên đường;

thay đổi các loại máy móc sử dụng trong các ngành công nghiệp; và

cải thiện thiết kế của động cơ xe.

Một chủ taxi

Dầu diesel là loại nhiên liệu rẻ và hiệu quả hơn so với xăng hoặc điện.

Sự giới hạn số lượng xe sẽ gây ra sự đầu cơ tăng giá giấy phép lái taxi và làm gia tăng các chi phí.

Chính vì những con phố hẹp nên khi giao thông tắc nghẽn giao thông, khói xe không thoát được; vấn đề nằm ở chỗ những con phố chứ không phải là các phương tiện giao thông.

Trong một vài năm gần đây, có rất nhiều người thường xuyên bị mắc các bệnh về đường hô hấp.

Ở những nơi ô nhiễm không khí cao, con người càng dễ có khả năng bị mắc các bệnh về tim và phổi.

Gần đây người ta đã chứng minh được rằng trẻ em hít vào một lượng lớn các hạt bụi chì từ khói xe sẽ kém tập trung hơn trong học tập do sự tích tụ chì trong não.

Chúng ta cần thực hiện mọi biện pháp để làm giảm ô nhiễm không khí.

Sau khi hoàn thành dự án này:

Tôi có thể phân tích các bức ảnh vệ tinh để xem có bao nhiêu cánh rừng nhiệt đới đang bị mất đi.

Tôi có thể hiểu nạn phá rừng đang gây ra vấn đề về xói mòn đất, làm giảm sự đa dạng và mất đi môi trường sống như thế nào.

Tôi có thể hiểu được các quan điểm của các dân tộc khác nhau về việc khai thác gỗ trong rừng nhiệt đới.

Tôi đang sử dụng giấy ít hơn và tái sử dụng phong bì để tiết kiệm gỗ.

Sau khi hoàn thành dự án này:

Ký tên:

Đồng ý hành động

Nguồn Gốc, Lịch Sử Ra Đời Và Phát Triển Của Phật Giáo

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là người sáng lập ra đạo Phật, một trong những tôn giáo có tầm ảnh hưởng lớn nhất trên thế giới trong lịch sử cũng như hiện nay.

* Nguồn gốc của Phật Giáo:

– Lịch sử Đức Phật Thích – ca – mâu – ni. “Theo sự xác định niên đại truyền thống, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni (Shakya thub-pa), còn được gọi là Đức Phật Cồ Đàm (Gau-ta-ma), sống trong khoảng thời gian từ năm 566 đến 485 trước Công Nguyên ở miền Trung Bắc Ấn Độ”.

– Đức Thích Ca Mâu Ni (Shakya thub-pa) được sinh ra trong một gia đình chiến binh, quý tộc giàu sang ở nước Thích Ca (Shakya), có thủ đô là thành Ca Tỳ La Vệ (Kapilavastu, Ser-skya’i gnas), nằm ở biên giới giữa Ấn Độ và Nepal ngày nay. Ngài sanh ra là thái tử và có tên là Tất Đạt Đa (Siddhartha,Don-grub). Phụ thân ngài là Tịnh Phạn (Shuddhodana, Zas gtsang-ma). Mẫu thân của Ngài là Ma Gia (Maya-devi, Lha-mo sGyu-‘ phrul-ma). Đức Phật được thụ thai một cách thần kỳ trong giấc mơ, bà Ma Gia thấy con voi trắng sáu ngà đi vào bên hông bà và lời tiên tri của nhà hiền triết A Tư Đà (Asita), rằng đứa bé sẽ trở thành một ông vua vĩ đại, hoặc một nhà hiền triết cao quý. Về sau, cũng có việc mô tả sự đản sanh thanh tịnh của Đức Phật từ bên hông của mẹ ngài ở một nơi không xa thành Ca Tỳ La Vệ, trong vườn Lâm TỳNi (Lumbini Grove, Lumbi-na’i tshal), việc Ngài bước đi bảy bước lúc đản sanh và nói “ta đã đến nơi”, cùng với cái chết của mẹ ngài sau khi sanh ra ngài.

– Thời niên thiếu, Đức Phật sống một cuộc đời hoan lạc. Ngài lập gia đình và có một người con trai là La Hầu La (Rahula, sGra-gcan ‘dzin). Trong những bản văn về sau có ghi tên người vợ của ngài là Da Du Đà La (Yashodhara, Grags ‘ dzin-ma). Tuy nhiên, lúc hai mươi chín tuổi, Đức Phật từ bỏ cuộc sống gia đình và di sản hoàng tộc của mình, trở thành một người tầm đạo lang thang hành khất (dge-sbyong)

* Lịch sử ra đời và phát triển của Phật Giáo.

– Đức Thích Ca Mâu Ni đã vì một đại nguyện lớn lao, một lòng từ vô lượng mà khước từ mọi hạnh phúc, quyền uy, tiện nghi vật chất để cầu đạo giài thoát. Và cũng với đại tâm đại nguyện ấy, sau khi chứng được đạo quả Vô thượng Bồ đề, Ngài đã dâng hiến thời gian cho công cuộc hằng hóa độ sanh. Đức Thế Tôn đã chu du khắp đất nước Ấn Độ thời xa xưa ấy, từ cực Bắc dưới chân núi Hymalaya, đến cực Nam bên ven sông Gange (sông Hằng). Đức Thế Tôn đã dành những tuần lễ đầu tiên để chiêm nghiệm đến giáo pháp thậm thâm vi diệu mà Ngài đã chứng đắc, và thọ hưởng pháp lạc mà quả phúc mang đến. Pháp Cú kinh, kệ số 153-154, đã ghi lại một trong những Phật ngôn đầu tiên Ngài đã thốt lên trong thời gian này:“Lang thang bao kiếp sống Ta tìm nhưng không gặp Người xây dựng nhà này Khổ thay, phải tái sanh Ôi! Người làm nhà kia Nay ta đã thấy ngươi Ngươi không làm nhà nữa Đòn tay ngươi bị gẫy Kèo cột ngươi bị tan Tâm ta được tịch diệt Tham ái thảy tiêu phong” (Bản dịch của HT Thích Minh Châu) Câu kinh như một lời ca khải hoàn, mô tả sự chiến thắng vẻ vang rực rỡ sau cuộc chiến đấu nội tâm thầm lặng gian nan. Ông thợ tượng trưng cho ái dục, vô minh, phiền não luôn ẩn sâu kín trong mỗi con người, nay đã bị phát hiện.

– Đức Phật cũng đã để lại cho thế gian một bài học luân lý đẹp đẽ, đó là sự tỏ lòng tri ân sâu sa đối với cây bồ đề che nắng che mưa cho Ngài trong suốt thời gian tầm đạo. Đức Thế Tôn đã đứng cách một khoảng xa để chiêm bái đại thọ suốt trong một tuần. Sau này, nơi đây vua Asoka (A Dục) dựng lên một tháp kỷ niệm gọi là Animisalocana Cetiya, nay vẫn còn.

– Đức Thế Tôn đã suy nghĩ đến giáo lý giải thoát sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh cao thượng, siêu lý luận, ly dục, vô ngã mà Ngài đã chứng đắc; còn chúng sanh thì luôn chìm sâu vào ái dục, định kiến, chấp ngã với nhiều thủ trước… Làm thế nào để con người dễ dàng chấp nhận giáo lý ấy? Và rồi, với trí tuệ của bậc giác ngộ, Đức Thế Tôn đã quan sát thế gian và thấy rằng: “Có hạng chúng sinh ít nhiễm bụi đời, nhiều nhiễm bụi đời; có hạng độn căn, lợi căn; có hạng thiện tánh, ác tánh; có hạng dễ giáo hóa, khó giáo hóa… Như trong hồ sen xanh, hồ sen hồng, hồ sen trắng, sanh ra dưới nước, lớn lên dưới nước, không vươn lên khỏi mặt nước, được nuôi dưỡng dưới nước; có loại sanh ra dưới nước, lớn lên dưới nước, vươn lên khỏi mặt nước, không bị nước thấm ướt…” (Trung Bộ I). Và như vậy, với hình ảnh những cành sen vươn ra khỏi mặt nước, những cành ở lưng chừng, những cành ở sâu trong lòng nước v.v… đã gợi lên trong Thế Tôn về căn cơ bất đồng của mọi người. Có những căn cơ thấp như cánh sen ở đáy hồ, có những căn cơ trung bình như những cánh sen ở lưng chừng nước, cũng có những căn cơ cao có thể tiếp thu trọn vẹn giáo pháp của Ngài như những cành sen đã nhô ra khỏi mặt nước. Dù sống trong nghiệp quả bất đồng, nmỗi chúng sanh đều có hạt giống giác ngộ, như hoa sen dù sống trong bùn tanh hôi, vẫn tỏa hương thơm ngát.

Với ba lần thỉnh cầu và phát khởi thiện nguyện hộ trì giáo pháp của Phạm Thiên, Đức Thế Tôn quyết định gióng lên tiếng trống Pháp và bắt đầu thực hiện sứ mạng của mình. Ngài tuyên bố với thế gian, với loài người, với cõi trời và với tất cả, con đường đạo cứu khổ và diệt khổ, con đường dẫn đến cõi bất sanh bất diệt, cõi Niết bàn đã được khai mở: “Cửa bất tử rộng mở, cho những ai chịu nghe…” (Trung Bộ I). Và bánh xe Pháp bắt đầu chuyển vận.

Từ đây Phật Giáo bắt đầu ra đời và phát triển mạnh mẽ cho đến ngày nay. – Mặc dù đạo Phật chưa bao giờ phát triển phong trào truyền giáo, tuy nhiên, các giáo huấn của Đức Phật lại lan xa và rộng trên tiểu lục địa Ấn Độ và từ đó, xuyên suốt cả Châu Á. Khi đến với mỗi nền văn hóa mới, các phương tiện và phong cách của đạo Phật lại được thay đổi để phù hợp với tâm lý của người dân địa phương, nhưng không ảnh hưởng đến những điểm tinh túy về trí tuệ và lòng bi mẫn. Tuy nhiên, đạo Phật chưa bao giờ phát triển một hệ thống cấp bậc nói chung về quyền lực, với một vị lãnh đạo tối cao. Mỗi quốc gia nơi đạo Phật lan truyền đến đều phát triển những hình thức riêng của nơi đó, cấu trúc tôn giáo riêng và vị lãnh đạo tinh thần riêng. Hiện nay, vị lãnh đạo đáng kính nổi tiếng trên thế giới trong số những vị lãnh đạo Phật giáo là Đức Dalai Lama của Tây Tạng.

– Đạo Phật có hai nhánh chính. Tiểu thừa (Hinayana), hay Cỗ Xe Nhỏ, nhấn mạnh đến sự giải thoát cá nhân, trong khi Đại thừa (Mahayana), hay Cỗ Xe Lớn, chú trọng đến việc tu tập thành một vị Phật toàn giác để phổ độ chúng sinh một cách hoàn hảo nhất. Mỗi nhánh lại có nhiều phân nhánh. Tuy nhiên, hiện nay, ba hình thức chính còn tồn tại: một là Tiểu thừa, được biết như Theravada, ở Đông Nam Á, và hai nhánh Đại thừa, đó là các truyền thống Phật giáo Trung Quốc và Tây Tạng.

– Truyền thống Tiểu thừa lan rộng từ Ấn Độ đến Tích Lan (Sri Lanka) và Miến Điện vào thế kỷ thứ ba trước Công Nguyên, và từ đó đến Vân Nam (Yunnan), phía Tây Nam Trung quốc, Thái Lan, Lào, Cao Miên (Cambodia), miền Nam Việt Nam và Nam Dương (Indonesia). Không lâu sau đó, những chiếc túi của các thương nhân người Ấn Độ theo đạo Phật đã được tìm thấy ở vùng duyên hải Bán Đảo Ả Rập, và thậm chí xa hơn như Alexandria, Ai Cập. Các hình thức khác của Tiểu thừa cũng lan đi từ thời đó đến Pakistan, Kashmir, A Phú Hãn (Afghanistan), vùng phía Đông và duyên hải của Iran, Uzbekistan, Turkmenistan và Tajikistan ngày nay. Đây là những tiểu bang cổ xưa của Gandhara, Bactria, Parthia và Sogdia. Từ căn cứ này ở vùng Trung Á, các hình thức đạo Phật Tiểu thừa này lan rộng hơn vào thế kỷ thứ hai sau công nguyên đến phía Đông Turkistan (Xinjiang) và xa hơn vào Trung Quốc, rồi đến Kyrgyzstan và Kazakhstan vào cuối thế kỷ thứ bảy. Các hình thức Tiểu thừa sau đó được kết hợp với những nét đặc trưng của Đại thừa cũng đến từ Ấn Độ, để cuối cùng truyền thống Đại thừa trở thành hình thức chiếm ưu thế của Phật giáo tại hầu hết vùng Trung Á.

– Hình thức Đại thừa của Trung Quốc sau này lan đến Đại Hàn, Nhật Bản và Bắc Việt Nam. Một làn sóng khác sớm hơn của Đại thừa, kết hợp với các hình thức Shaivite của Ấn Độ giáo, lan truyền từ Ấn Độ đến Nepal, Nam Dương, Mã Lai và các vùng ở Đông Nam Á, bắt đầu vào khoảng thế kỷ thứ năm. Truyền thống Đại thừa Tây Tạng, bắt đầu từ thế kỷ thứ bảy, kế thừa toàn bộ lịch sử phát triển của Phật giáo Ấn Độ, trải rộng khắp các vùng Hy Mã Lạp Sơn và đến Mông Cổ, Đông Turkistan, Kyrgyzstan, Kazakhstan, phía Bắc Nội Trung Hoa, Mãn Châu, Siberia và vùng Kalmyk thuộc Mông Cổ gần biển Caspian, thuộc phần Châu Âu của nước Nga.

– Sự lan rộng của đạo Phật ở hầu hết Châu Á đã diễn ra một cách an hòa, theo nhiều cách. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã lập ra tiền lệ. Trước tiên, là một vị thầy, ngài đã đến các vương quốc lân cận để chia sẻ sự hiểu biết sâu sắc của mình với những ai có lòng quan tâm và muốn học hỏi. Tương tự như thế, ngài chỉ thị các tăng sĩ của ngài đi khắp nơi để giải thích những giáo huấn của mình. Ngài không kêu gọi người khác chỉ trích và từ bỏ tôn giáo của họ hay cải đạo theo đạo mới, vì ngài không tìm cách thiết lập tôn giáo riêng của mình. Ngài chỉ cố gắng giúp người khác vượt qua sự bất hạnh và khổ đau mà họ đang tạo ra cho chính mình, vì thiếu sự hiểu biết. Các thế hệ môn đồ sau này nhận nguồn cảm hứng từ tấm gương của đức Phật và họ chia sẻ với người khác các phương pháp của ngài mà họ thấy mang lại lợi lạc cho đời sống của họ. Đây là cách mà cái được gọi là “đạo Phật” hiện nay đã lan rộng và xa như thế nào.

Nguồn: budsas

Bạn đang xem bài viết Trung Tâm Phát Triển Giáo Dục Cộng Đồng Nguồn Sáng trên website Sansangdethanhcong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!