Xem Nhiều 12/2022 #️ Tư Tưởng Hồ Chí Minh / 2023 # Top 19 Trend | Sansangdethanhcong.com

Xem Nhiều 12/2022 # Tư Tưởng Hồ Chí Minh / 2023 # Top 19 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Tư Tưởng Hồ Chí Minh / 2023 mới nhất trên website Sansangdethanhcong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

PGS, NGND Lê Mậu Hãn

Đại học Quốc gia Hà Nội

Hồ Chí Minh – nhà tư tưởng dân tộc, lãnh tụ thiên tài vô cùng kính yêu của Đảng ta, của nhân dân và của cả dân tộc ta. Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta và non sông đất nước ta. Dưới ngọn cờ chói lọi Hồ Chí Minh, một kỷ nguyên mới trong lịch sử tiến hoá của dân tộc Việt Nam đã được mở ra: kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội.

Tư tưởng và lý luận cách mạng của Người để lại cho dân tộc ta và nhân loại là một di sản vô cùng quý giá. Thế giới vần xoay và biến đổi, song tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn trường tồn, được kế thừa và vươn mãi lên tầm cao mới.

Từ bình diện thế giới, nhiều chính khách, nhiều nhà nghiên cứu về tư tưởng, về triết học, về lịch sử… ở nước ngoài đã sớm nhìn nhận và khẳng định, Hồ Chí Minh là một nhà tư tưởng lỗi lạc, một nhà lý luận cách mạng độc đáo, đặc sắc.

Đảng ta, nhân dân ta nguyện tiếp tục sự nghiệp vĩ đại của Người, đi theo con đường của Người đã vạch ra, con đường dẫn đến độc lập, tự do, sự phồn vinh của đất nước và hạnh phúc cho đồng bào. Việc học tập, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đã triển khai từ lâu bằng nhiều hình thức phong phú trong toàn Đảng, toàn dân ta như một nhu cầu tất yếu khách quan của cuộc sống. Song, trước đây, việc học tập, nhất là giảng dạy, nghiên cứu và tuyên truyền về Hồ Chí Minh trên góc độ một hệ tư tưởng, một học thuyết cách mạng hầu như chưa được xác định rõ rệt. Nếu đâu đó có nêu ra ý kiến về tư tưởng Hồ Chí Minh thì cũng rất dè dặt, thận trọng – thận trọng đến mức rụt rè, tự ti. Hình như có một quan niệm cho rằng chủ nghĩa Mác – Lênin là đỉnh cao trí tuệ của thời đại, khó ai có thể vượt qua được nên đã tạo ra một sự kìm hãm khá nặng nề đối với năng lực nghiên cứu sáng tạo của chúng ta. Chỉ trong những năm gần đây, do hoàn cảnh thế giới có nhiều biến động lớn, hệ thống chính trị – xã hội của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu sụp đổ nhanh chóng, do nhu cầu giữ vững sự ổn định tình hình kinh tế – xã hội của nước ta và sự đổi mới tư duy do Đại hội Đảng lần thứ VI vạch ra, đặc biệt từ khi Đại hội lần thứ VII của Đảng khẳng định “Đảng lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”, công tác giảng dạy, nghiên cứu và tuyên truyền về tư tưởng Hồ Chí Minh mới được khẳng định, được xúc tiến mạnh mẽ. Nhiều tác phẩm, bài viết có cá tính sáng tạo khoa học đã xuất hiện. Nhân dân ta đang đón chờ nhiều công trình nghiên cứu về tư tưởng Hồ Chí Minh có giá trị khoa học lớn để triển khai vào cuộc sống cách mạng. Chắc chắn đó là thành quả của nhiều chương trình khoa học lâu dài.

Trong tác phẩm Tìm hiểu một số vấn đề trong tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, xuất bản năm 1982 có đoạn viết: “Điều có giá trị xuyên suốt toàn bộ lịch sử cách mạng Việt Nam từ khi có chủ nghĩa Mác-Lênin soi tỏ là ở chỗ Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vạch ra và thực hiện thắng lợi tư tưởng cách mạng vĩ đại: Không có gì quý hơn độc lập tự do”

[3]

.

Năm 1995, Hội đồng xuất bản bộ Hồ Chí Minh Toàn tập đã viết: “Tư tưởng “không có gì quý hơn độc lập tự do” là điểm xuất phát của tư tưởng Hồ Chí Minh”… “Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là luận điểm trung tâm của tư tưởng Hồ Chí Minh, nó thâm nhập và xuyên suốt toàn bộ hệ thống tư tưởng của Người trong các thời kỳ và trên các lĩnh vực”

[4]

. “Độc lập tự do – tư tưởng cách mạng cốt lõi, học thuyết chính trị của Hồ Chí Minh”

[5]

. Con đường cứu nước là “con đường cách mạng vô sản. Chủ nghĩa yêu nước đã gắn liền với chủ nghĩa quốc tế chân chính. Giải phóng dân tộc đã gắn liền với giải phóng xã hội, giải phóng con người. Đó chính là cốt lõi của chủ nghĩa xã hội tư tưởng Hồ Chí Minh”

[6]

.

Hồ Chí Minh là trí tuệ, tinh hoa văn hoá của dân tộc Việt Nam trong thời đại mới, giải phóng Tổ quốc, giải phóng nhân dân, xây dựng sự phồn vinh của đất nước, cuộc sống tự do, ấm no hạnh phúc của nhân dân. Tư tưởng Hồ Chí Minh là ý chí Việt Nam… Tính nhân dân, tính nhân đạo thể hiện nổi bật trong tư tưởng Hồ Chí Minh”

[7]

. “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống những luận điểm về cách mạng Việt Nam, gắn liền với những biến động của thế giới trong thế kỷ thứ XX này, từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đến cách mạng xã hội chủ nghĩa, trên tất cả các lĩnh vực chính trị, quân sự, kinh tế, xã hội, ngoại giao, văn hoá, giáo dục, y tế, khoa học – kỹ thuật, văn hoá – nghệ thuật, luật pháp, đạo đức, tôn giáo… quan hệ đến đời sống của giai cấp và dân tộc, quốc gia và quốc tế, nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và giải phóng con người”

[8]

.

“Tư tưởng Hồ Chí Minh là sự kế thừa sâu sắc tinh hoa của dân tộc và trí tuệ của thời đại mà đỉnh cao là chủ nghĩa Mác-Lênin, là sự vận dụng sáng tạo và kết hợp nhuần nhuyễn giữa giai cấp và dân tộc, chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, là khoa học về chiến lược và sách lược đảm bảo dẫn đến thắng lợi cho sự nghiệp cách mạng của Việt Nam trong hiện tại và tương lai”

[9]

Tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống lý luận về đường lối chiến lược, sách lược của cách mạng Việt Nam: Cách mạng giải phóng dân tộc, xây dựng chế độ dân chủ nhân dân tiến lên chủ nghĩa xã hội, không qua giai đoạn phát triển chế độ tư bản chủ nghĩa, nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội (giai cấp), giải phóng con người, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới.Tư tưởng Hồ Chí Minh là sản phẩm của sự kết hợp truyền thống văn hoá Việt Nam mà cốt lõi là chủ nghĩa yêu nước, tinh thần nhân ái, cố kết dân tộc và tinh hoa văn hoá nhân loại với chủ nghĩa Mác-Lênin, lấy chủ nghĩa Mác-Lênin làm cơ sở thế giới quan và phương pháp luận. Đó là tư tưởng cách mạng không ngừng, từ cách mạng dân tộc dân chủ tiến lên chủ nghĩa xã hội, nội dung cốt lõi là giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội (giai cấp), giải phóng con người. Nói ngắn gọn là độc lập dân tộc, dân chủ, chủ nghĩa xã hội, hay nói gọn hơn: Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội

[10]

.

“Nhìn lại sự hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh qua quá trình cách mạng Việt Nam, chúng ta thấy cả một hệ thống quan điểm toàn diện, nhất quán và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam. Đó là đi từ cách mạng dân tộc dân chủ tiến lên chủ nghĩa xã hội, không qua giai đoạn phát triển chế độ tư bản chủ nghĩa; độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Đó là một cuộc cách mạng thuộc địa từ giải phóng dân tộc đến giải phóng xã hội, giải phóng con người tiến lên chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam”

[11]

.

Các cách giải thích nêu trên chính là điều mà các tác giả muốn tiếp cận mối quan hệ bản chất và tính độc đáo của tư tưởng Hồ Chí Minh. Nhưng rõ ràng là chưa thoả mãn nhu cầu khoa học và cách nhìn tổng quát tư tưởng Hồ Chí Minh, chưa có thể đáp ứng đòi hỏi của quần chúng cả về mặt lý trí, tư tưởng và chỉ đạo hành động trước mắt và mai sau. Vậy làm thế nào để có một định nghĩa tổng quát về tư tưởng Hồ Chí Minh, đáp ứng các yêu cầu về khoa học và thực tiễn?

Theo tôi, một hệ tư tưởng, một học thuyết cách mạng… bao giờ cũng có một cấu trúc chặt chẽ hoà quyện với nhau của nhiều bộ phận hợp thành tạo nên bản chất và đặc điểm của nó; có nguồn gốc phát sinh và phát triển; có giá trị làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động của một chính đảng cách mạng, của phong trào quần chúng hoặc của cả một dân tộc; có tác dụng khoa học và thực tiễn cách mạng của nó. Một định nghĩa hợp lý phải phản ánh được tổng quát các yếu tố cấu thành của hệ tư tưởng hay của học thuyết cách mạng như chính nó đã tồn tại. Vậy ta có thể trình bày tư tưởng Hồ Chí Minh từ cách nhìn tổng quát như sau:

Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ quan điểm được xây dựng trên một nền tảng triết học nhất quán, đại biểu cho ý chí, nguyện vọng của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động, của dân tộc ta, được hình thành trên cơ sở hiện thực của đất nước và thời đại và trở lại chỉ đạo thực tiễn, làm kim chỉ nam cho hành động của Đảng… Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ quan điểm toàn diện về cách mạng Việt Nam, gắn liền giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người, độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội mà hạt nhân cơ bản là chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Tư tưởng và hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh lấy dân tộc và con người làm điểm xuất phát, làm địa bàn hoạt động, làm động lực và mục tiêu. Tư tưởng đó đã và mãi mãi khơi dậy sức mạnh của truyền thống yêu nước, yêu dân, sức mạnh đoàn kết dân tộc kết hợp với sức mạnh quốc tế trong sáng, thuỷ chung. Tư tưởng Hồ Chí Minh là sản phẩm trí tuệ của truyền thống và hiện đại của dân tộc, là sự tiếp thu tinh hoa văn hoá của nhân loại, văn hoá phương Đông và phương Tây mà đỉnh cao là chủ nghĩa Mác-Lênin; của một tư duy uyên thâm, năng động, cách mạng, sáng tạo và phát triển. Tư tưởng đó mang bản sắc dân tộc đậm đà và sâu sắc, được tiếp nối và nâng lên tầm cao của thời đại. Tư tưởng “không có gì quý hơn độc lập, tự do” là động lực và mục tiêu lý tưởng, là cơ sở của chiến lược cách mạng, chiến lược kháng chiến, chiến lược kiến quốc, xây dựng thể chế kinh tế, chính trị, xã hội mới, chiến lược đoàn kết toàn dân tạo dựng sức mạnh dân tộc và sức mạnh quốc tế, chiến lược xây dựng đội tiên phong cách mạng của giai cấp, của dân tộc và chiến lược con người của Hồ Chí Minh, của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Từ năm 1946, Hồ Chí Minh đã nói: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”

[12]

. Và trước khi qua đời, Người nói lên điều mong muốn cuối cùng để lại trong bản Di chúc lịch sử là: “Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”

[13]

. “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” là tư tưởng cách mạng cốt lõi, là lẽ sống của Hồ Chí Minh, của dân tộc Việt Nam và nhân dân thế giới. Đồng chí Phạm Văn Đồng đã nêu rõ: “Hồ Chí Minh đã đề xướng đường lối độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, sau này được đúc lại trong khẩu hiệu nổi tiếng: ‘Không có gì quý hơn độc lập tự do’

[14]

. “Độc lập, tự do ở đây là độc lập của dân tộc, tự do của nhân dân, của con người. Độc lập đi liền với tự do và độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội. Rõ ràng lời nói này là sự kết tinh những khát vọng thiết tha và cao đẹp nhất của mọi con người và mọi dân tộc, bởi nó khẳng định một chân lý vĩnh cửu, bởi nó là lời hiệu triệu vang vọng suốt chiều dài lịch sử, phải được ghi trong những lời nói vĩ đại nhất của loài người”

[15]

.

Một số chính khách nước ngoài khi nghiên cứu về cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Chí Minh đã đi đến kết luận Hồ Chí Minh đã kết hợp một cách thiên tài sự nghiệp giải phóng dân tộc và sự nghiệp giải phóng xã hội, đồng thời nhấn mạnh rằng: Thông qua thực tiễn đấu tranh cách mạng, qua chủ nghĩa anh hùng nảy nở trong cuộc chiến đấu của dân tộc Việt Nam, người ta đã tìm thấy lời giải thích hay nhất cho học thuyết độc lập, tự do của Người.

Đại hội lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam (4-2001) tiếp tục khẳng định Đảng và nhân dân ta quyết tâm xây dựng đất nước Việt Nam theo con đường xã hội chủ nghĩa trên nền tảng chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Đại hội nêu rõ:

“Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại. Đó là tư tưởng về giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người; về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; về sức mạnh của nhân dân, của khối đại đoàn kết dân tộc; về quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng nhà nước thực sự của dân, do dân, vì dân; về quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân; về phát triển kinh tế và văn hoá, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; về đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; về chăm lo bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau; về xây dựng đảng trong sạch, vững mạnh, cán bộ đảng viên vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”

[16]

Tư tưởng Hồ Chí Minh là một cống hiến quý báu vào kho tàng lịch sử tư tưởng cách mạng của thời đại, có ý nghĩa thực tiễn năng động, cách mạng, là ngọn đèn soi sáng, cổ vũ cho các thế hệ hôm nay và mai sau của dân tộc Việt Nam trên hành trình: Độc lập dân tộc và Chủ nghĩa xã hội./.

Chú thích:

[1]

. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1991, tr.127-128.

[2]

. Viện Mác-Lênin: Một số vấn đề cơ bản trong Văn kiện Đại hội VII của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb. Tư tưởng – Văn hoá, Hà Nội, 1991, tr.17.

[3]

. Tìm hiểu một số vấn đề trong tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1982, tr.25.

[4]

. Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.1, tr.9,10.

[5]

. Các đại hội Đảng ta (1930-1986), Nxb Sự thật, Hà Nội, 1991, tr.32.

[6]

. Võ Nguyên Giáp: Thế giới sẽ còn đổi thay, nhưng tư tưởng Hồ Chí Minh sống mãi, in trong Góp phần tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1992, tr.37.

[7]

. Hoàng Tùng: Qúa trình hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh và giá trị chỉ đạo đối với cách mạng Việt Nam, Tạp chí Cộng sản, 4-1992, tr.13. 

[8]

. Đặng Xuân Kỳ: Tư tưởng Hồ Chí Minh, Tạp chí Lịch sử Đảng, 3-1992, tr.3-4.

[9]

. Song Thành: Tư tưởng Hồ Chí Minh, cơ sở khoa học và thực tiễn, Tạp chí Lịch sử Đảng, 3-1992, tr.9.

[10]

. Võ Nguyên Giáp (chủ biên): Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000,tr.94-95.

[11]

. Lê Khả Phiêu: Tư tưởng Hồ Chí Minh soi sáng con đường Đảng ta và nhân dân ta tiến vào thế kỷ XXI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.23-24.

[12]

. Hồ Chí Minh Toàn tập, Sđd, t.4, tr.161.

[13]

.

Hồ Chí Minh Toàn tập

, Sđd, t.12, tr.512.

[14]

. Phạm Văn Đồng: Người vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin. In trong Góp phần tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh, Sđd, tr.30.

[15]

. Phạm Văn Đồng: Hồ Chí Minh và con người Việt Nam trên con đường dân giàu, nước mạnh, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1993, tr.133.

[16]

. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001, tr.83-84.

Tư Tưởng, Đạo Đức Hồ Chí Minh / 2023

Sau Chiến thắng Việt Bắc (Thu Đông 1947), Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra sáng kiến tổ chức, lãnh đạo phong trào thi đua ái quốc để giành thắng lợi to lớn hơn. Chấp thuận đề nghị của Người, ngày 27-3-1948, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Chỉ thị phát động phong trào thi đua ái quốc. Thực hiện chỉ thị này, nhân kỷ niệm 1.000 ngày, Ngày Nam Bộ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược 23-9-1945, ngày 11-6-1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra “Lời kêu gọi thi đua ái quốc”.

(HCM.VN) – Cách đây 110 năm, ngày 5/6/1911, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã rời bến cảng Nhà Rồng bắt đầu hành trình tìm đường cứu nước – con đường “Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội”. Thời gian đã lùi xa, nhưng giá trị lịch sử và thời đại của sự kiện này vẫn mang tính thời sự sâu sắc, có tầm quan trọng đặc biệt và ý nghĩa to lớn đối với toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta hiện nay.

Chủ tịch Hồ Chí Minh – Người đã dâng hiến trọn vẹn cả cuộc đời và sự nghiệp của mình cho dân tộc Việt Nam, là hiện thân của khát vọng mãnh liệt giải phóng dân tộc, phấn đấu đến cùng cho nền độc lập của Tổ quốc, tự do, hạnh phúc của dân tộc. Ðây không chỉ là giải phóng dân tộc mà còn là phát triển dân tộc, đưa dân tộc ta ra khỏi tình cảnh nô lệ, nước mất nhà tan, bị đọa đầy áp bức dưới ách thống trị của đế quốc, thực dân, giành lại độc lập chủ quyền và xây dựng đất nước giàu mạnh, nhân dân trở thành người chủ, có cuộc sống ấm no, tự do và hạnh phúc.

Tìm Hiểu Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Gia Đình / 2023

Gia đình là một thiết chế xã hội, dựa trên cơ sở kết hợp những thành viên khác giới, thông qua hôn nhân, để thực hiện các chức năng sinh sản, tái sản xuất con người; chức năng nuôi dưỡng, giáo dục hình thành nhân cách; chức năng thỏa mãn nhu cầu tinh thần, tâm lý – tình cảm; chức năng kinh tế,…là “cái nôi thân yêu” che chở và nuôi dưỡng để hình thành nhân cách con người. Ở bất kỳ giai đoạn nào, gia đình đều giữ vai trò là tế bào của xã hội, là một trong những nhân tố quyết định sự hưng thịnh của quốc gia.

Thế nào là một gia đình tốt? Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh gia đình tốt là một gia đình trên thuận, dưới hòa, không thiên vị “Về tinh thần, thì phải trên thuận, dưới hòa không thiên tư, thiên ái. Bỏ thói mẹ chồng hành hạ nàng dâu, dì ghẻ ghét bỏ con chồng. Về vật chất, từ ăn mặc đến việc làm phải ăn đều, tiêu song, có kế hoạch, có ngăn nắp” (2).

Gia đình là nơi nuôi dưỡng, giáo dục để hình thành nhân cách con người, nhân cách con người tốt hay xấu điều do sự giáo dục trong gia đình. Tuy nhiên, trong giáo dục cần có sự kết hợp giữa gia đình – nhà trường – xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, trong giáo dục nếu thiếu sự giáo dục trong gia đình hoặc giáo dục trong gia đình không phù hợp với yêu cầu xã hội sẽ hạn chế việc giáo dục, vì vậy cần kết hợp gia đình với nhà trường và xã hội trong giáo dục. “Tôi cũng mong các gia đình liên lạc chặt chẽ với nhà trường giúp nhà trường giáo dục và khuyến khích con em chăm chỉ học tập, sinh hoạt lành mạnh và hăng hái giúp ích nhân dân” (3). Trong gia đình cha mẹ là người có ảnh hưởng lớn đối với trẻ, vì vậy Người dạy “Tôi mong cha mẹ học trò hết sức giúp đỡ nhà trường trong việc giáo dục con em chúng ta cho có kết quả tốt đẹp” (4).

Nói chuyện tại Hội nghị cán bộ Đảng ngành Giáo dục tháng 6 năm 1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn cán bộ Đảng trong ngành Giáo dục “Phải mật thiết liên hệ với gia đình học trò. Bởi vì giáo dục trong nhà trường, chỉ là một phần, còn cần có sự giáo dục ngoài xã hội và trong gia đình để giúp cho việc giáo dục trong nhà trường được tốt hơn. Giáo dục trong nhà trường dù tốt mấy nhưng thiếu giáo dục trong gia đình và ngoài xã hội thì kết quả cũng không hoàn toàn” (5).

Giáo dục trong gia đình, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh mỗi người nên nhắc nhở, dạy bảo nhau “Vợ chưa biết thì chồng bảo, em chưa biết thì anh bảo, cha mẹ không biết thì con bảo” (6).

Thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 4 – 5 – 2001 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 72/2001/QĐ/TTg lấy ngày 28/6 hàng năm là Ngày Gia đình Việt Nam nhằm đề cao trách nhiệm của các cấp, các đoàn thể và tổ chức xã hội cùng toàn thể nhân dân thường xuyên quan tâm xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ và hạnh phúc.

Trong giai đoạn hiện nay, giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, vấn đề xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ và hạnh phúc được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm. Ngày 21 – 2 – 2005, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ban hành Chỉ thị số 49/CT – TW về “Xây dựng gia đình thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa”.

Trong Cương lĩnh năm 2011, Đảng ta đã chỉ rõ “Xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, thật sự là tế bào lành mạnh của xã hội, là môi trường quan trọng, trực tiếp giáo dục nếp sống và hình thành nhân cách” (7).

Ngày 29 – 5 – 2012, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 629/QĐ – TTg về “Phê duyệt Chiến lược phát triển gia đình Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030”. Trong Chiến lược phát triển gia đình Việt Nam Đảng và Nhà nước ta đã chỉ rõ “Xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc là một trong các mục tiêu quan trọng của Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn 2011 – 2020, đồng thời cũng lá trách nhiệm của mọi gia đình trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước“.

Xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc được Đảng và Nhà nước ta quan tâm, tuy nhiên trong thực tế hiện nay tình trạng ly hôn trong xã hội ngày càng gia tăng, gây bất ổn trong cuộc sống gia đình và kéo theo sự bất ổn trong xã hội. Tình trạng bạo lực gia đình và ngược đãi trẻ em ngày càng gia tăng, nhiều gia đình vô trách nhiệm trong chăm sóc con cái, tình trạng con cái ngược đãi cha mẹ ngày càng phổ biến.

Trên địa bàn tỉnh Bến Tre, trong những năm gần đây tình trạng bạo lực gia đình có chiều hướng ngày càng gia tăng. Trong năm 2013, phát hiện 465 vụ bạo lực gia đình, trong đó bạo lực tinh thần 222 vụ, bạo lực thân thể 174 vụ, bạo lực kinh tế 58 vụ, bạo lực tình dục 11 vụ.

Gần đây trên địa bàn tỉnh Bến Tre xảy ra tình trạng con ruột thuê người chém cha ở xã Hưng Nhượng – huyện Giồng Trôm (do mâu thuẫn trong gia đình – cha mẹ ly hôn), con ruột dùng xăng đốt cha ruột ở xã Bình Thành – huyện Giồng Trôm (do tranh giành đất đai).

Bạo lực gia đình, ngược đãi cha mẹ, ly hôn,…dẫn đến cuộc sống gia đình bất ổn, xã hội bất ổn. Vì vậy, mỗi gia đình cần phải xây dựng gia đình thật hạnh phúc, có như vậy xã hội sẽ ổn định.

Để hạn chế tình trạng bạo lực gia đình, ngược đãi trẻ em và người cha mẹ, Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre đã thành lập Ban chỉ đạo công tác gia đình và ban hành Quyết định số 104/QĐ-UBND ngày 16/1/2014 về “Quy chế làm việc của Ban chỉ đạo công tác gia đình”.

Tóm lại, gia đình là tế bào của xã hội, gia đình tốt thì xã hội tốt, để gia đình tốt thì phải xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ và hạnh phúc. Xây dựng gia đình là trách nhiệm của mỗi thành viên trong gia đình, đồng thời cũng là trách nhiệm của toàn xã hội. Gia đình phát triển bền vững là nhân tố quan trọng góp phần ổn định xã hội, đồng thời cũng thực hiện tốt lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh./.

(1): Hồ Chí Minh toàn tập, tập 9, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội – 2000, trang 531 – 532(2): Sđd, tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội – 2000, trang 337

(3), (4), (5): Sđd, tập 8, trang 81, 251, 395

(7): Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2011, trang 77

Tìm Hiểu Phép Biện Chứng Trong Tư Tưởng Hồ Chí Minh / 2023

Hồ Chí Minh là một nhân vật lỗi lạc đã để lại dấu ấn của mình vào lịch sử nhân loại trong thế kỷ XX. Người đã thể hiện tư duy biện chứng của mình một cách giản dị, gần gũi với đời thường qua phong cách ứng xử, phong cách sinh hoạt, phong cách diễn đạt của Người. Hồ Chí Minh tự nhận mình là người học trò nhỏ của các nhà hiền triết vĩ đại của nhân loại như Khổng Tử, Mác, Giê su, Tôn Dật Tiên. Những người thầy với tư tưởng bác ái vì con Người. Cũng chính vì xuất phát từ tấm lòng yêu thương đối với con người, Người nhận thức một cách sâu sắc giá trị trong tư tưởng của các bậc hiền triết trong lịch sử, đặc biệt là chủ nghĩa Mác – Lênin. Chính vì vậy, thế giới quan của Người là thế giới quan duy vật biện chứng. Dù Người chưa bao giờ nhận mình là nhà khoa học, cũng không để lại các tác phẩm triết học như “Hệ tư tưởng Đức”, “Luận cương Phoiơbắc”, “Biện chứng cuả tự nhiên”, “Bút ký triết học”,… nhưng Hồ Chí Minh sống trong thời đại đã có chủ nghĩa Mác – Lênin soi sáng và Người đã tiếp thu đồng thời đem tinh túy, sâu sắc của chủ nghĩa Mác – Lênin diễn đạt thành những điều cụ thể để nhân dân dễ hiểu, dễ làm. Rõ ràng phải có một tư duy lỗi lạc tầm cỡ vĩ nhân như Hồ Chí Minh cùng với năng lực hoạt động thực tiễn tuyệt vời mới có thể chuyển hóa thành triết học của cuộc sống, giới thiệu một thế giới quan duy vật biện chứng để mọi người ở nhiều tầng lớp, trình độ khác nhau đều có thể hiểu được. Hồ Chí Minh không viết một tác phẩm riêng biệt nào hay một bài luận nào về phép biện chứng, song phương pháp biện chứng duy vật là phương pháp cơ bản nhất trong lí luận và trong toàn bộ quá trình hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh. Phương pháp biện chứng trong tư tưởng Hồ Chí Minh là sự kết hợp giữa tư tưởng biện chứng trong triết học Mácxit với triết học phương Đông và Phương Tây giữa quá khứ và hiện tại. Đó cũng không phải là sự vận dụng từng nguyên lý, quy luật hay phạm trù của một hệ thống triết học riêng biệt mà chính là sự vận dụng tổng hợp các lí thuyết, các kinh nghiệm được đúc kết tạo thành các quan điểm nhất quán trong suốt quá trình hoạt động cách mạng của Người. Nhờ nắm bắt được cốt lõi của phép biện chứng duy vật, Hồ Chí Minh đã phát hiện được điểm chung do đó đã giải quyết thành công các vấn đề kết hợp các mặt đối lập trong chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội,… Có thể nói, việc lãnh đạo cách mạng của Hồ Chí Minh đã được nâng lên mức nghệ thuật, thể hiện ở khả năng và tài nghệ tập hợp, lãnh đạo quần chúng lại để trở thành những tổ chức cách mạng rộng lớn, mạnh mẽ, những tổ chức hoạt động tích cực, tự giác với nhận thức rõ ràng về mục đích chiến đấu của mình. Đối với Hồ Chí Minh, phương pháp biện chứng được thể hiện trong nghệ thuật chỉ đạo cách mạng, là sự linh hoạt, mềm dẻo, ứng đối kịp thời đối với mọi tình huống để tận dụng mọi điều kiện, hoàn cảnh, tạo thế và lực cho cách mạng để đưa cách mạng đến thành công. Đặc biệt là nghệ thuật phân tích và giải quyết mâu thuẫn, là sự thể hiện nhất quán quan điểm toàn diện, quan điểm phát triển, quan điểm lịch sử cụ thể và quan điểm kế thừa. Vận dụng tài tình quy luật mâu thuẫn để lãnh đạo cách mạng, trong thời kỳ cách mạng dân tộc dân chủ, Người đã xác định đúng hai mâu thuẫn của xã hội Việt Nam lúc đó. Mâu thuẫn giữa nhân dân Việt Nam, tổ quốc Việt Nam với thực dân Pháp và mâu thuẫn giữa quần chúng lao động với giai cấp địa chủ phong kiến. Đây là mối mâu thuẫn dân tộc, giai cấp. Từ việc xác định mâu thuẫn cơ bản của xã hội Việt Nam lúc đó, từ đó, Người xác định đúng chiến lược, nhiệm vụ của cách mạng lâu dài của cách mạng. Còn trong từng giai đoạn cách mạng, Hồ Chí Minh đã xác định đúng đắn mâu thuẫn chủ yếu, mâu thuẫn nổi lên hàng đầu và xác định đúng sách lược, nhiệm vụ trước mắt của cách mạng, tập hợp sức mạnh của đông đảo quần chúng để tiến hành cách mạng. Hồ Chí Minh đã nhạy bén, linh hoạt trong việc phát hiện, nắm bắt và giải quyết mâu thuẫn. Chính thời kỳ chuẩn bị và tiến hành cách mạng tháng 8 – 1945 và thời kỳ sau cách mạng tháng 8 trong tình thế “ngàn cân treo sợi tóc” là biểu hiện rõ nét và đậm đà trong lịch sử cách mạng nước ta về nghệ thuật sử dụng mâu thuẫn và nắm bắt thời cơ của chủ tịch Hồ Chí Minh. Quy luật mâu thuẫn của phép biện chứng duy vật không chỉ được Hồ Chí Minh sử dụng để đề ra chiến lược cách mạng mà còn để xác định phương pháp cách mạng khoa học. Người viết căn dặn: Khi việc gì có mâu thuẫn, khi phải tìm cách giải quyết tức là có vấn đề. Khi đã có vấn đề ta phải nghiên cứu cho rõ cái gốc mâu thuẫn trong vấn đề đó là gì. Phải điều tra, phải nghiên cứu cái mâu thuẫn đó. Phải phân tích rõ ràng có hệ thống, ở cái nào là mâu thuẫn chính, cái nào là mâu thuẫn phụ. Phải đề ra cách giải quyết. Hồ Chí Minh chú ý đến mâu thuẫn và Người thường căn dặn các cán bộ khi có việc gì có mâu thuẫn, khi phải tìm cách giải quyết tức là có vấn đề. Khi đã có vấn đề ta phải nghiên cứu cho rõ cái gốc mâu thuẫn trong vấn đề đó là gì. Phải điều tra phải nghiên cứu cho rõ cái gốc đó. Phải phân tích rõ ràng và có hệ thống, phải biết rõ cái nào là mâu thuẫn cơ bản, mâu thuẫn không cơ bản; mâu thuẫn chủ yếu, mâu thuẫn không chủ yếu; mâu thuẫn đối kháng, mâu thuẫn không đối kháng và phải đề ra cách giải quyết. Đó là nguyên tắc hoạt động của Hồ Chí Minh, là quan điểm của Người về vai trò của mâu thuẫn. Phương pháp biện chứng của chủ nghĩa Mác đã chỉ dẫn cho Hồ Chí Minh mối quan hệ tương hỗ giữa cái riêng và cái chung, giữa dân tộc và nhân loại, truyền thống và hiện đại, dân tộc và tộc người, cá nhân và xã hội, lí luận và thực tiễn trong quá trình phát triển. Người thấy rõ nguyên tắc căn bản của phương pháp biện chứng Mácxit là thống nhất giữa lí luận với thực tiễn. Người viết: “Trong khi nhấn mạnh sự quan trọng của lí luận, đã nhiều lần đồng chí Lênin nhắc đi nhắc lại rằng lí luận cách mạng không phải là giáo điều, nó là kim chỉ nam cho hành động cách mạng; và lí luận không phải là một cái gì cứng nhắc, nó đầy tính sáng tạo; lí luận luôn luôn cần được bổ sung bằng những kết luận mới rút ra từ trong thực tiễn sinh động…Phải cụ thể hóa chủ nghĩa Mác – Lênin cho thích hợp với điều kiện hoàn cảnh từng lúc từng nơi”[1]. Do vậy, theo Người: ” Học tập chủ nghĩa Mác – Lênin là học tập cái tinh thần xử trí mọi việc, đối với mọi người và đối với bản thân mình, là học những chân lý phổ biến của chủ nghĩa Mác – Lênin để áp dụng một cách sáng tạo vào hoàn cảnh thực tế của nước ta”[2]. Như vậy, thống nhất giữa lý luận và thực tiễn được Hồ Chí Minh hiểu trên tinh thần biện chứng. Thực tiễn cần tới lý luận soi đường, dẫn dắt, chỉ đạo, hướng dẫn, định hướng để không mắc phải bệnh kinh nghiệm, còn lý luận phải dựa trên cơ sở thực tiễn, phản ánh thực tiễn và phải luôn liên hệ với thực tiễn, nếu không sẽ mắc phải bệnh giáo điều. Nghĩa là thực tiễn, lý luận cần đi cùng nhau, hỗ trợ cho nhau, bổ sung cho nhau. Hồ Chí Minh căn dặn: Học tập lý luận thì nhằm mục đích để vận dụng chứ không phải học lý luận vì lý luận, hoặc để tạo cho mình một cái vốn lý luận để sau này đưa ra mặc cả với Đảng. Như vậy, cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh là triết lý biện chứng duy vật. Hồ Chí Minh đã kết hợp nhuần nhuyễn triết lý ấy với tinh hoa của nền văn hóa phương Đông và phương Tây, với thực tiễn Việt Nam và thế giới. Cùng với chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh mà hạt nhân là thế giới quan, phương pháp luận duy vật biện chứng luôn là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và nhân dân ta.

Bạn đang xem bài viết Tư Tưởng Hồ Chí Minh / 2023 trên website Sansangdethanhcong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!